Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình nhận định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phê bình nhận định. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2024

“HÀ NỘI VÀ TÔI”, HOÀI NIỆM THĂNG LONG, NỖI BUỒN NHÂN THẾ...

 ĐẶNG VĂN SINH

 Tôi mới quen biết Vũ Ngọc Tiến vài năm nay nhưng đọc của ông thì từ lâu rồi, chí ít là tập Rồng đá* với ba truyện ngắn quỷ khốc thần sầu: Chù Mìn Phủ và tôi, Âm bản chiến tranh Vị phồn thực. Đó là chưa nói đến Quỷ vương, một tiểu thuyết gây ấn tượng mạnh, khiến ông được liệt vào danh sách những nhà văn tên tuổi của Thủ Đô.

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2024

TRUYỆN NGẮN Ý NHI, NHỮNG TRANG ĐỘC THOẠI THEO DÒNG Ý THỨC... (Đọc “Ngọn gió qua vườn”, NXB Phụ Nữ của Ý Nhi)

 ĐẶNG VĂN SINH

 

“Ngọn gió qua vườn” là tên tập sách tuyển một đời cầm bút của Ý Nhi, dày 822 trang khổ lớn, bao gồm cả phần phụ lục in những bài phê bình thơ và truyện ngắn của chị.

Ý Nhi từng nổi tiếng với tập thơ “Người đàn bà ngồi đan” (NXB Tác phẩm mới, 1985), từng nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1985, Giải thưởng Cikada của Vương quốc Thụy Điển 2015, nhưng không có nghĩa sự nghiệp văn xuôi bị mờ đi bởi ánh hào quang thi ca. Trái lại, những trang văn của chị đã ghi dấu ấn khá đậm nét như một phong cách riêng, góp phần đáng kể vào quá trình phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam đương đại.

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

TẢN VĂN LÊ PHƯỢNG, NHỮNG MẢNH HỒI ỨC

 

Tản văn là loại hình khá đa dạng với nhiều biến thể khác nhau, và mỗi biến thể ấy tương thích với “tạng” của từng cây bút. Có loại tản văn thiên về triết lý xã hội, nhân sinh, có loại khai thác trạng thái tâm lý, tình cảm, lại có loại được diễn đạt dưới dạng hồi ức từ những trang nhật ký kết hợp bới thao tác bình luận ngoại đề. Nói như vậy để thấy rằng, tản văn không có khuôn mẫu nhất định. Nó là một thể loại văn chương mở. Không chỉ riêng các nhà văn nhà thơ, mà bất cứ ai trong giới cầm bút đều có thể viết.

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2024

ĐINH TẤN PHƯỚC - BÓNG THỨC - NHỮNG HẠT BỤI BAY...

 

Đặng Văn Sinh

 Với 16 bài thơ song ngữ (tiếng Việt & tiếng Anh), 33 bản nhạc cùng những lời bình của các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học, “Bóng thức” là tập ca khúc phổ thơ của Đinh Tấn Phước khiến cho tôi có ấn tượng mạnh về anh. Chưa nói đến chất lượng âm nhạc, chỉ riêng phần ca từ, Đinh Tấn Phước đã tạo cho mình một phong cách riêng, mà ở đó, theo anh “thơ như là mỹ học của cái khác”(*) qua hệ thống hình tượng, trạng thái cảm xúc, cấu trúc ngôn ngữ và tính đa nghĩa của văn bản.

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2024

HỒ XUÂN HƯƠNG “QUẨY GÁNH CÀN KHÔN...”

(Đọc tiểu thuyết HỒ XUÂN HƯƠNG của Nguyễn Thế Quang, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2024)

 

 



Hồ Xuân Hương là trường hợp khá đặc biệt, vừa là nhân vật có thật vừa là nhân vật giai thoại, thậm chí cả huyền thoại, từng chứng kiến cảnh hưng phế của ba vương triều phong kiến trong lịch sử cận đại Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX. Trước hết, Hồ Xuân Hương là một nhân cách văn hóa hay cụ thể hơn, là giá trị tinh thần, của một thời kỳ lịch sử. Là chủ soái tao đàn Thăng Long, những vần thơ trào phúng của bà chẳng những phản ánh khát vọng sống của chị em phụ nữ mà còn nói lên sự bất mãn của cộng đồng bởi sự thối nát của nền chính trị đương thời.

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2023

“ĐÊM ĐÀN BÀ NGHÉN BÃO”, HÀNH TRÌNH VỀ MIỀN HOANG KHÁT…

 


(Đọc bài thơ “Đêm đàn bà nghén bão” trong thơ ĐÊM ĐÀN BÀ NGHÉN BÃO mới xuất bản của Maria Hoàn Nguyễn)

 

“Đêm đàn bà nghén bão” là bức tranh khỏa thân miêu tả tâm trạng vật vã của người đàn bà khao khát yêu đương trong một đêm trăng suông. Vừa sống động ở hình khối của ngôn ngữ hội họa, lại thấm đẫm tinh thần sex bởi sự chuyển hóa qua lại giữa những hình ảnh, động tác hư và thực, bài thơ dường như đạt đến “độ không tuyệt đối” của mọi giá trị thẩm mỹ nếu ta nhìn nhận nó như là ngôn ngữ thơ siêu thực.

“ĐÊM ĐÀN BÀ NGHÉN BÃO”(*), TẤM VOILE SANG TRỌNG KHOÁC LÊN BỨC HỌA MAJA KHỎA THÂN

 

 

Thật ra, cho đến giờ, người ta vẫn chưa tìm được định nghĩa chính xác về thơ, nhưng nếu gặp bài thơ hay, tự nhiên trực cảm sẽ mách bảo cho ta. Có điều nó hay đến mức độ nào thì còn phụ thuộc vào học vấn, tầm vóc văn hóa và năng lực thẩm mĩ đối với mỗi cá nhân khi tiếp nhận văn bản.

Ngay từ khi mới xuất hiện, Hoàn Nguyễn đã tạo riêng cho mình một giọng thơ lạ khác hẳn phần còn lại của thi đàn Việt. Thơ Hoàn Nguyễn chẳng những mới, lạ, giầu nội lực mà còn đa dạng về cách kiến tạo thế giới hình tượng cho dù chị chỉ khiêm tốn nhận mình là “kẻ rong chơi trên miền chữ nghĩa”. Nói một cách hình ảnh, rất có thể, Hoàn Nguyễn được hưởng ân phước ngay từ lúc xuất sinh như một thiên sứ Chúa Trời cử xuống thế gian này làm đẹp cho đời bằng những vần thơ lấp lánh như chuỗi ngọc lục bảo dưới ánh ban mai kia chăng?

Khác với dòng thơ đám đông, Hoàn Nguyễn được khu biệt ở cá tính sáng tạo qua ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, nhịp điệu tâm hồn đầy tràn cảm xúc và hệ thống từ vựng luôn mới lạ cũng như quá trình chuyển hóa các tín hiệu thẩm mỹ làm nên cấu trúc tổng thể.

Thứ Hai, 23 tháng 10, 2023

“CÒN CÓ AI NGƯỜI KHÓC TỐ NHƯ”, MỘT MÓN LẨU THẬP CẨM

Đặng Văn Sinh

Chẳng cần suy nghĩ nhiều, chúng ta cũng hiểu được, tác giả lấy cảm hứng từ câu kết trong bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” (讀小青記) của Nguyễn Du “Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” (天下何人泣素如) làm tựa đề cho cuốn sách vừa được ra mắt rất hoành tráng tại Hà Nội.

Ngoài bìa sách Võ Bá Cường ghi là “tiểu thuyết”, nhưng vì nội dung lại viết về giai đoạn Nguyễn Du từ kinh thành Thăng Long về sống ở quê vợ làng Hải An, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam Hạ, cho nên người đọc nghĩ ngay đến thể loại tiểu thuyết lịch sử. Sách do Nxb Hội Nhà văn cấp phép, bìa cứng, khổ 15 x 23 cm, dày 255 trang, nếu cộng cả bài giới thiệu của ông Ngô Đông Hải, bài “tựa” của ông Văn Chinh và bài phê bình của ông Bùi Việt Thắng là 296 trang. Nội dung “Còn có ai người khóc Tố Như” chia làm hai phần, Phần một: “Sóng Bạch Lãng”, Phần hai: “Phong Nguyệt Sào”. Tổng cộng 16 chương, mỗi chương được đặt tên bằng một câu thơ, trong đó có cả thơ của chính tác giả.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

NGUYỄN THỊ HỒNG, HOÀI NIỆM TỪ NHỮNG TRANG THƠ TUYỂN  

 

Đặng Văn Sinh

 


Cuối năm Nhâm Dần, Nguyễn Thị Hồng xuất bản tuyển tập thơ. Sự kiện này thật ra chẳng có gì lạ đối với một người cầm bút đã ở tuổi 75, từng giữ vai trò trưởng phòng biên tập nhà xuất bản. Đây là một ấn phẩm đẹp, do nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam cấp giấy phép, 336 trang, khổ 13.5 x 20.5cm, in 1500 bản, phát hành quý IV năm 2022. “Thơ tuyển” chia làm hai phần, phần tác phẩm 102 bài, trong đó có một đoản khúc “Tự khúc” và một trường ca 54 trang mang tên “Hồn khèn”. Phần tác phẩm và dư luận có 11 bài viết của những nhà phê bình và nhà thơ tên tuổi như Vũ Quần Phương, Lò Ngân Sủn, Đoàn Hữu Nam…

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2022

LỤC BÁT ĐỒNG THỊ CHÚC, NHỊP TÂM HỒN

Đặng Văn Sinh

 Có thể nói, thơ đối với Đồng Thị Chúc chỉ là nghề tay trái, một thứ amateur, nhưng lúc hứng lên, cảm xúc dâng trào, thỉnh thoảng chị vớ được câu thơ để đời. Điều này không có gì khó hiểu. Tất cả là bởi niềm đam mê, và, còn hơn thế nữa, niềm đam ấy lại gặp được cái duyên. Và đấy cũng là cũng là số phận của người cầm bút gắn mệnh vận mình với trò chơi chữ nghĩa.

CHÀNG LÃNG TỬ VÀ KHÚC HẠ YÊN

ĐẶNG VĂN SINH

 

 

Chỉ sau khi đọc xong “Khúc hạ yên” tôi mới hiểu Nguyễn Thành Tuấn có số thiên di. Thật ra, tôi chưa bao giờ là đệ tử làng xê dịch, nhưng ông trời lại ưu ái ban cho nhãn quan thấu thị, nên ít nhiều cũng đọc được “vị” của đám lãng tử thi nhân. Tập thơ chia làm ba “khúc” kèm một phụ lục, mỗi khúc mang một cái tên: “Đường làng”, “Cầm nhánh dạ hương” “Đi”, còn “Phụ lục” bổ sung 6 bài được tác giả gọi là “Chữ sót”. Nhưng thật ra sự phân chia này hoàn toàn không rành mạch, rất có thể chỉ là ngẫu hứng. Bởi lẽ, chính sự không rành mạch ấy mới làm nên diện mạo tập thơ khi mà hầu hết các bài (trừ Khúc một) đều có cả ba yếu tố trên tương tác với nhau tạo nên một chủ đề xuyên suốt: Xê Dịch. Và sau chặng đường dài mỏi gối chồn chân, anh ta nghĩ đã đến lúc “hạ yên”.

Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2022

ÔI ĐẤT NƯỚC, ANH ĐÃ YÊU ĐẾN BĂNG HOẠI CẢ ĐỜI…

 


(Đọc tuyển tập thơ Trần Mạnh Hảo)


           Đặng Văn Sinh 

 

Sau 60 năm cầm bút, Trần Mạnh Hảo làm tuyển tập, một tuyển tập khá đồ sộ với đủ các thể loại, trong đó nhiều nhất vẫn là thơ tự do và lục bát. Tôi phải mất nửa tháng mới đọc hết 673 bài, và thực sự cảm phục bởi gia tài đáng nể của ông. Có thể nói, trong số các nhà thơ Việt Nam đã từng cầm súng trong cuộc chiến ý thức hệ hai miền Nam Bắc (1954-1975) ít người có được nội lực thâm hậu như ông. Chưa nói đến thơ, bao gồm cả 3 tập trường ca, chỉ riêng tiểu thuyết “Ly thân” và tập phê bình “Thơ phản thơ” với những quan điểm khác người, Trần Mạnh Hảo đã một thời làm sôi động văn đàn Việt, trong đó có cả nhưng ý kiến bất đồng gay gắt.

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022

TU HÚ, “TRẦN TỤC ĐẦM ĐÌA CHƯA THOÁT GỐC”


 


TU HÚ, “TRẦN TỤC ĐẦM ĐÌA CHƯA THOÁT GỐC”

 

Thật ra, Tu hú chỉ là một trong hai bài (nhị thủ) Đường luật thuộc dòng thơ giỡn của Maria Hoàn Nguyễn như một cách giễu nhại đám sư sãi giả danh tu hành, trốn việc quan đi ở chùa. Tuy nhiên, so với Đường tu, Tu hú có cấp độ giễu nhại đậm đặc hơn không chỉ ở hành vi ám chỉ mà còn là nghệ thuật sử dụng từ ngữ mang tính “khiêu khích”.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

TỪ TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰC ĐẾN MỸ HỌC PHỒN THỰC, MỘT CÁCH LÝ GIẢI VỀ THƠ HỒ XUÂN HƯƠNG

(Đọc “Hồ Xuân Hương, hoài niệm phồn thực”(1) của PGS.TS Đỗ Lai Thúy)

Đặng Văn Sinh

 


Như chúng ta đã biết, Hồ Xuân Hương là một nhân vật đặc biệt, một nhà thơ nữ Việt Nam thời trung đại, số lượng tác phẩm để lại không nhiều, nhưng đến nay vẫn còn là một ẩn số, không chỉ với bạn đọc bình dân, mà ngay cả giới học thuật nghiên cứu về bà trong cả thế kỷ qua cũng còn tồn tại những quan điểm khác nhau.

Có thể nói, Hồ Xuân Hương giống như ngôi sao băng vụt sáng bay qua bầu trời văn chương, một đi không trở lại khiến trong tâm thức người Việt luôn hoài cảm một tài nữ với tầm vóc khổng lồ về trí tuệ và nhân cách văn hóa. Nói cách khác, Hồ Xuân Hương là hiện tượng kỳ lạ, muốn hiểu thơ bà cần tìm được chìa khóa giải mã nghệ thuật. Đương nhiên, trong nhiều thập niên qua đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về nữ sĩ bằng những cách tiếp cận khác nhau, từ xã hội học đến phân tâm học của Freud hay nguyên lý hội hóa trang carnaval của Bakhtin, bước đầu cũng gây được sự chú ý. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là kết quả nghiên cứu từng khía cạnh của một tổng thể nghệ thuật mà chưa chỉ ra được bản chất của tổng thể ấy. Vấn đề thanh hay tục trong thơ Hồ Xuân Hương vẫn còn là câu hỏi bỏ ngỏ suốt hai thế kỷ.

Thứ Năm, 21 tháng 10, 2021

THỬ GIẢI MÃ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT BÀI THƠ “HAI CÁI BÓNG TRÊN TƯỜNG VÔI TRẮNG”

 


Trước khi tìm được chìa khóa giải mã, mời bạn đọc cùng thưởng thức mấy dòng đầu ở bài thơ đã từng gây xôn xao dư luận một thời của Maria Hoàn Nguyễn:

kêu gì thế thạch sùng

ai bắt

nhịn ngày

cày đêm lụng bụng

chặc...chặc lưỡi

bắt muỗi

đuổi nhau thạch sùng săn lùng

vờ vịt

Thứ Ba, 31 tháng 8, 2021

THƠ GIỠN HOÀN NGUYỄN, CÔNG NGHỆ TÁI SINH TIẾNG CƯỜI DÂN GIAN

 Đặng Văn Sinh 

 


Từ lâu nay  Hoàn Nguyễn Maria vẫn được xem là người đàn bà làm thơ có nhiều phong cách mà phong cách nào cũng để lại ấn tượng mạnh, tuy rằng đã hơn một lần chị có nhời với dân làng, mình chỉ là kẻ rong chơi trên miền chữ nghĩa. Riêng tôi nghĩ, đấy chỉ là cách nói hình ảnh, còn thực chất, cái kiểu rong chơi như Hoàn Nguyễn là nỗi khao khát cháy bỏng của không ít thi huynh, thi muội, hội viên của những hội văn chương sang trọng từ tỉnh lẻ đến kinh thành, chỉ mong có một hai câu thơ được thiên hạ nhớ đến. Hóa ra, cái nghiệp thi khách cũng gian truân lắm, không phải cứ nhãn mác đầy mình là thành ngay ông nọ bà kia nếu vẫn cứ tự sướng với type thơ xay lúa ý tứ nhợt nhạt, từ ngữ mòn sáo, cảm xúc hời hợt.

So với mảng thơ tình có yếu tố sex, hay gần hai chục bài Thị Mầu vừa chao chát vừa đong đưa, cái mà Hoàn Nguyễn gọi là thơ giỡn không phải dòng chính. Đó là loại thơ thường xuất hiện khi tinh thần Cô Dở bấn loạn hoặc tâm trạng buồn bực. Khá nhiều bài không đặt tiêu đề, thậm chí chỉ một cặp lục bát xuất thần trong khoảnh khắc, nếu không ghi kịp thời, ít phút sau là biến mất vô tăm tích.

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2020

NGUYỄN XUÂN DIỆN VÀ VĂN HÓA VIỆT QUA “VÀNG SON TRÊN GIẤY GẤM”

 

 

Đặng Văn Sinh

 


“Vàng son trên giấy gấm” là cuốn sách có hàm lượng văn hóa đậm đặc đến mức tôi phải giật mình bởi kiến văn đáng nể của anh bạn vong niên sẵn máu giang hồ. Người ấy là Nguyễn Xuân Diện, một ông nghè Xứ Đoài với những công trình biên khảo nghiêm túc có giá trị học thuật như “Lịch sử và Nghệ thuật Ca trù”, “Kiều Oánh Mậu - Cuộc đời và tác phẩm”, “Ca trù - Phía sau đàn phách”, “Tản Viên sơn thánh”, “Đường thi Quốc âm cổ bản”...

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020

CÓ NÊN LỚN TIẾNG DẠY DỖ THIÊN HẠ KHI CHÍNH TÁC GIẢ ĐẠO VĂN VÀ VIẾT THƠ ĐƯỜNG BẤT THÀNH CÚ

  

Đặng Văn Sinh

 





Tôi chưa hân hạnh được kết bạn với Khúc Hà Linh trên trên FB, nhưng có một face booker vừa gửi đến bài viết của ông về cách nhận diện thơ Đường và cách làm một bài thơ Đường. Status không dài nhưng giọng điệu cực kỳ cao ngạo, phản ánh tâm thức của một học giả “thượng thông thiên văn, hạ tường địa lý”, sặc mùi dạy đời, coi nhân quần chỉ là đám học trò thiểu năng trí tuệ, bảo sao nghe vậy.

Đọc xong, tôi bật cười. Bởi lẽ, tất cả những thứ Khúc Hà Linh viết về thơ Đường đều chỉ là sự xào xáo từ những cuốn sách đã xuất bản hoặc nguồn từ liệu có sẵn trên mạng internet. Hơn nữa, lý thuyết về thơ Đường từ khi nó xuất hiện đến nay, trải qua 1400 năm vẫn thế, nhai đi nhai lại chỉ khiến người ta bực mình theo kiểu cụ cố Hồng “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”.

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

“HÀ NỘI VÀ TÔI”, HOÀI NIỆM THĂNG LONG, NỖI BUỒN NHÂN THẾ...

 


 

Đặng Văn Sinh

 


Tôi quen mới quen biết Vũ Ngọc Tiến vài năm nay nhưng đọc của ông thì từ lâu rồi, chí ít là tập “Rồng đá” với ba truyện ngắn quỷ khốc thần sầu: “Chù Mìn Phủ và tôi”, “Âm bản chiến tranh” và “Vị phồn thực”. Đó là chưa nói đến tiểu thuyết “Quỷ vương”, một tác phẩm khiến nhà văn Hà Nội chính gốc được liệt vào danh sách... phải thường xuyên “chăm sóc”.

Nhưng đến “Hà Nội và tôi” thì khác. Cuốn sách dày ba trăm trang do nhà xuất bản Hội Nhà văn cấp giấy phép, lại đích thân giám đốc tổng biên tập Nguyễn Quang Thiều viết lời giới thiệu như một sự đảm bảo bằng vàng, nên đương nhiên được phát hành bình thường.

Cái khác ở “Hà Nội và tôi” không phải ở bút pháp. Bởi lẽ, “giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, dù là truyện ngắn, tiểu thuyết, ký sự hay văn chính luận, Vũ Ngọc tiến bao giờ cũng đẩy ngòi bút đến tận cùng, dữ dội, thậm chí cực đoan, mà là ở cách ông tìm về quá khứ, khai mở ký ức đem đến cho người đọc những cung bậc cảm xúc khác nhau về một Hà Nội thanh lịch, tử tế xứng đáng là đất Thăng Long ngàn năm văn vật nhưng dường như... một đi không trở lại.

Dưới con mắt Vũ Ngọc Tiến, Thăng Long chỉ còn là hoài niệm, một thứ “phú quý giật lùi”, do những biến động xã hội đã trở thành quá vãng.

Theo thiển ý của chúng tôi , “Hà Nội và tôi” là tập truyện ký, mà ở phần “Hoài niệm Thăng Long”, Vũ Ngọc Tiến sử dụng hồi ức như một biện pháp ẩn dụ ngầm so sánh quá khứ với hiện tại để chứng minh sự suy thoái của một nền văn hóa đất Kinh Kỳ do chính con người gây ra một cách có ý thức. Muốn xây dựng được giá trị sống tốt đẹp một dân tôc phải mất đến vài thế hệ vun trồng, bồi đắp, nhưng hủy hoại nó lại rất nhanh, có khi chỉ cần một cuộc chiến tranh ý thức hệ, một cuộc “cách cái mạng nó đi” là tất cả lại trở về điểm xuất phát. Khi ấy con người sẽ hành xử với nhau theo một chuẩn mực khác, có thể lành mạnh hơn, nhưng phần nhiều là dốt nát, hãnh tiến hơn, vô đạo đức nhưng đầy quyền lực bởi phông văn hóa mỏng và thừa thói hợm hĩnh, kiêu ngạo. Cụ đồ Vũ Duy Huệ trong “Đạo học người Hà Nội xưa” hay ông “vua tơ tằm Đông Dương” trong “Chuyện doanh nhân Mỹ Bảo” là hai minh chứng rất có sức thuyết phục cho phong cách sống mẫu mực của người Hà Nội: trung thực, tín nghĩa, thủy chung như nhất. Vậy thì câu hỏi đặt ra phía sau những trang “hoài niệm” ấy là, vì sao ngày trước người Thăng Long có nếp sống đẹp qua sự tôn sự trọng đạo, giữ gìn chữ tín và ứng xử với nhau tình nghĩa đến như vậy? Rằng vì cơn cớ gì mà phong hóa người Hà Nội xuống cấp đến mức thảm hại khiến cho ngay cả những cư dân gốc gác Thăng Long xưa, sau mấy chục năm ăn nhờ ở đậu xứ người, giờ trở về thấy mình lạc lõng giữa một thành phố xa lạ nhếch nhác?

Hà Nội một thời được xem như mẫu mực của văn hóa phương Đông. Sau khi người Pháp sang khai hóa, Thăng Long với tư cách là thuộc địa nhưng chỉ mấy chục năm đã trở nên một thành phố sầm uất với những khu phố Tây, cầu Doumer, phủ Toàn Quyền, Nhà Hát Lớn và hàng loạt công trình kiến trúc hoành tráng, là niềm tự hào mà các quốc gia trong khu vực không dễ gì có được. Trí thức Tây học xuất hiện ngày càng nhiều cùng với trí thức Hán học trong lòng xã hội phong kiến nửa thuộc địa đang trên đường Âu hóa, nhưng có điều lạ là, người Hà Nội vẫn giữ được bản sắc văn hóa truyền thống.

Nhà văn Vũ Ngọc Tiến

Văn hóa cộng đồng tồn tại là bởi sự tích hợp từ những hạt nhân của nó mà quan trọng nhất văn hóa gia đình, dòng họ. Một khi các nấc thang giá tri thay đổi hoặc đổ vỡ tất yếu văn hóa cộng đồng sẽ băng hoại. Vì thế, ở một mức độ nào đó, ta có thể xem, “Hà Nội và tôi” là cuốn sách viết “Lời ai điếu” cho một nền văn hóa đang chết lâm sàng nếu những nhà quản lý ở cấp vĩ mô không có ngay biện pháp chấn hưng. Cứ nhìn vào bố cục tác phẩm, người đọc dù vô tâm đến mấy cũng nhận ra, sự xuống cấp của các giá trị sống Thủ Đô cứ tiệm thoái dần theo những biến động xã hội qua ba tiêu đề: HOÀI NIỆM THĂNG LONG, MUỐN QUÊN MỘT THUỞ và TRĂN TRỞ HÔM NAY.

Ở phần “Hoài niệm Thăng Long”, giống như thời kỳ trầm tích những giá trị căn bản, tốt đẹp nhất bởi kỷ cương xã hội được thiết lập và duy trì trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Người Kinh Kỳ khi ấy, dù lả anh phu xe hay con sen cũng đều có nhân cách tốt đẹp, có liêm sỉ và trọng danh dự. Các giai tầng xã hội luôn ứng xử với nhau theo những chuẩn mực trên ra trên, dưới ra dưới, mỗi cá nhân đều biết rõ vai trò và chức phận của mình nên xã hội không động loạn. Chính vì thế, khi đọc truyện “Mẹ tôi” hay “Hai người đàn bà bán muối”, lòng ta chợt rưng rưng, rồi trong tâm khảm tự nhiên mong ước bao giờ cho đến ngày xưa? Đương nhiên, một cộng đồng dân cư, có tốt đẹp đến mấy cũng không thể loại bỏ hết những thành phần bất hảo, nhưng ngay cả bà Phúc Toàn, một phụ nữ “rách giời rơi xuống” mà vẫn phải chịu sự ràng buộc của luật tộc, phải nhiều năm sau mới dám lén lút về làng cho dù bà ta là chủ hiệu thuốc bắc ở khu ba mươi sáu phố phường. Đọc đến “Một người Hà Nội đi kháng chiến”, ông Y, toàn tâm toàn ý phục vụ chế độ mới, từng làm đến trưởng ty kinh tế, vậy mà sau khi giải phóng Thủ Đô, bỗng nhiên thành kẻ vô gia cư. Như một phản xạ tự nhiên, tôi nghĩ ngay đến nhà tư sản yêu nước Trịnh Văn Bô. Gia đình ông đã hiến mấy ngàn lượng vàng cho chính phủ kháng chiến. Khi đất nước yên hàn, vợ ông, bà Hoàng Thị Minh Hồ muốn xin lại một trong nhưng ngôi đã bị chiếm dụng, vậy mà sau mấy chục năm, những quan chức chính phủ có thẩm quyền vẫn chỉ hứa suông, đến nỗi, một đêm, người con trai phải cõng mẹ “đột nhập” vào ngôi biệt thự như là kẻ trộm...

Vẫn phải nhắc lại “Hai người đàn bà bán muối”. Bà Ích Thái và chị Chanh tuy ở hai đẳng cấp khác nhau, hoàn cảnh xã hội khác nhau nhưng đều có chung một triết lý sống đẹp của phong hóa đất Kẻ Chợ. Người đàn bà chủ sạp vải nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc, sau chính sách cải tạo công thương mất sạch cơ nghiệp, chọn nghề bán muối vào dịp áp tết để ngạo đời: “Ơ hay! Sao ông không ăn mà lại nhìn tôi mà khóc? Còn gì là Tết! Ngày xuân... Giữa đời lạt tình tôi đi bán cái mặn mòi. Giữa cái nhộn nhạo, tôi đi rao mời quả phúc. Vui quá đi chứ. Buồn cái nỗi gì” (tr.62). Và đây nữa, một sự so sánh của người nữ doanh nhân khiến những ai đó có lương tri phải mủi lòng: “Tôi đi bán cái mình dư dả cho người đang khao khát, lãi lắm cả nhà ơi! Có mấy tiếng đồng hồ, thu lãi bằng nửa năm lương làm ở tổ hợp tác, can cớ gì phải sĩ diện”... (tr.62)

“Muốn quên một thuở” có thể xem là giai đoạn đệm, chuẩn bị cho một sự đổ vỡ trên quy mô lớn bằng cuộc cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp và phong trào hợp tác hóa đẩy đất nước vào cơn khủng hoảng trầm trọng. Có thể thấy rất rõ, cuộc cải cách ruộng đất cũng như cải tạo công thương nghiệp là một cú đòn trời giáng vào miền Bắc Việt Nam nói chung và không gian Hà Thành nói riêng làm cho mọi trật tự xã hội bị đảo lộn, trong đó, những điền chủ lương thiện, những nhà doanh nghiệp chân chính bị phá sản trở thành kẻ trắng tay, còn bọn lưu manh, vô học nghiễm nhiên nên ông nọ bà kia. Vết thương chí mạng ấy hằn sâu vào ký ức cộng đồng, kéo dài nhiều thế hệ, cho đến ngày nay có vẻ như vẫn còn rỉ máu.

Một nhà triết học Hy Lạp cách đây hơn hai ngàn năm từng nói, chính phủ nào công dân ấy. Hẳn là, không bao giờ một chính phủ loại ba mà lại có công dân thượng đẳng. Cũng bởi những “biến động nhân gian” theo chiều hướng tiêu cực như vậy mới đẻ ra tầng lớp “Bình cá gỗ”, “Bà Tuyết phe”, Tâm sứt hay Bôn Tây. Họ là sản phẩm của xã hội, khi bị những chính sách trái quy luật áp đặt, không còn đường sống, bắt buộc phải tìm cách “phá rào” theo phương châm “to be or not to be” mà Hamlet trong vở bi lịch cùng tên của văn hào W. Shakespeare, để tồn tại.

Văn hóa Tràng An một thuở đã bị thay thế bằng văn hóa công nông. Và một khi thứ văn hóa nặng mùi đấu tranh giai cấp mà nội hàm của nó là chuyên chính vô sản và chủ nghĩa lý lịch thì “thôi rồi, Lượm ơi!”.

Cho nên, Việt Nam mới có một thời kỳ đói dài đói rạc, thậm chí phải ăn cả thứ lương thực chỉ dành cho gia súc. Hạt bo bo là một trong số đó. Giờ nghĩ lại vẫn thấy rùng mình. Và cũng chính ở vào cái giới hạn mong manh của “to be or not to be” ấy, đã nảy sinh những bộ óc thông minh muốn cải tạo hoàn cảnh, khiến không ít người thân bại danh liệt hay mắc vòng lao lý. Họ giỏi giang, không chấp nhận cảnh đói nghèo, đi trước thời gian, tạo nên những chiều kích tác động không nhỏ vào nền kinh tế kế hoạch hóa của hệ thống học thuyết không tưởng chỉ đưa con người đến cảnh bần cùng. Bôn Tây, Ba Toác, Hải “Chichomex” là những trường hợp điển hình trong số đó. Với Bôn Tây thì chỉ có nghề đi tù mới tìm thấy tự do, còn Ba Toác, xuất hiện vào lúc tình trạng xã hội bế quan tỏa cảng đã tương đối cởi mở nên chớp thời cơ làm giầu bằng xảo thuật “lách luật”. Và rồi sau 23 năm nhìn lại, chính nhân vật nổi tiếng một thời đã khiến tác giả rút ra kết luận: “Có lẽ cần phải cảm ơn Ba Toác bởi qua nó, tôi mới ngộ ra những nhân vật ngày ấy của mình chỉ dừng ở mức tỷ phú tiền Việt. Họ giàu phất lên nhờ làm ăn theo kiểu móc ngoặc và lách luật, nhưng so với lứa tỷ phú tiền đô bây giờ thì họ vẫn chỉ là thứ làm ăn cò con, góp phần hình thành tầng lớp trung lưu mới ở Hà Nội giàu mà đa số mỏng học” (“Cùng Ba Toác viết lại câu chuyện cũ”, tr.173). Tuy không nói thẳng ra, nhưng bạn đọc ai cũng ngầm hiểu, cái gọi là móc ngoặc, lách luật ấy chính là những doanh nghiệp núp bóng tư nhân nhưng thực ra lại là sân sau của những ông lớn có chức có quyền nhiều khi khuynh đảo cả nền kinh tế đang ở giai đoạn tiền tư bản. Và có lẽ, cũng chính một mô hình xã hội với cách điều hành bất thường so với phần còn lại của thế giới như thế nên mới xuất hiện những hiện tượng như Mỹ Linh. Từ con gái nhà lành, “trải qua một cuộc bể dâu”, nhờ ơn mưa móc của những “thằng bán tơ” thế kỷ XX, nàng tiểu thư khuê các biến thành nữ tướng cướp xăm trổ đầy mình, trả thù đời, một trong số đó là gã bảo vệ trường mù chữ sắp chết đói do lòng thương người của cụ thân sinh cưu mang. Cho dù sau mấy chục năm, trở thành nữ doanh gia tài năng, lại được thừa kế một gia sản lớn ở Pháp, Mỹ Linh vẫn khao khát một tình yêu đích thực, muốn được người đàn ông xứng đáng là bậc nam nhi vuốt ve âu yếm. Thế mới biết, cho dù bị một xã hội bất lương chà đạp, mất hết niềm tin, nhưng trong nơi sâu thẳm tâm hồn một con người có gốc gác Thăng Long, được hưởng thụ nền giáo dục tử tế của các bậc sinh thành, vẫn còn đủ lương tri trở lại làm người.

Tuy nhiên, “Hà Nội và tôi” không phải không có những con người tốt đẹp giữa lúc nhân tình thế thái chao đảo. Chuyện ông giám thị trại tù, bằng tấm lòng nhân ái đã cảm hóa được bao nhiêu phạm nhân trở thành người lương thiện cũng đáng để cho ta phải suy nghĩ. Giá như, trên đời này có nhiều những cai tù giầu lòng vị tha như thế thì xã hội bớt đi biết bao kẻ tội đồ. Ngày nay, cứ mỗi khi mở báo ra đọc, là lại thấy tức mắt bởi những cái title “cướp, giết, hiếp” lan tràn trên các tờ lá cải câu khách. Vì sao một xã hội được mệnh danh là tốt đẹp nhất, đáng sống nhất mà lại lắm tệ nạn xã hội thế nhỉ?

Có lẽ vì vậy, Vũ Ngọc Tiến mới đặt cho phần ba của cuốn sách “Trăn trở hôm nay” chăng?

 

Bến Tắm, đầu tháng cô hồn, năm Canh Tý

Đ.V.S.

 

Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

KHỦNG HOẢNG XÃ HỘI BẮT ĐẦU TỪ GIA ĐÌNH QUA TIỂU THUYẾT “CÕI MÊ”

Đặng Văn Sinh


Có thể xem “Cõi mê” thuộc loại tiểu thuyết thế sự. Là tiểu thuyết bởi nó có cả một hệ thống nhân vật trải rộng trong những vùng không gian khác nhau, kéo dài già nửa thế kỷ đầy biến động của lịch sử dân tộc. Là thế sự, bởi nó luôn cập nhật được sự vận động của cấu trúc hạ tầng thể hiện khá rõ qua những hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đương đại trên nền tảng một hệ điều hành vĩ mô không dựa trên quy luật phổ quát mà tự tạo ra luật chơi riêng như là phát minh độc đáo của những người thuộc “bên thắng cuộc”.