Nguyên phi Hoàng Lan
Truyện
ngắn của Đặng Văn Sinh
Quân
doanh về đêm tĩnh mịch lạ thường. Lính Kim Ngô chống kích đứng im như những pho
tượng, chỉ những chiếc ngù trên chỏm mũ của họ là khẽ phất phơ. Ngoài trời mây
đen vần vũ. Gió lạnh quyện những hạt mưa thấm qua lần áo kép lạnh thấu xương.
Nhà vua tựa gối trước ngọn bạch lạp dáng vẻ trầm tư. Đêm nay là đêm cuối cùng ở
ngoài cương thổ sau hơn ba tháng ngự giá thân chinh, hoàng thượng tự nhiên thấy
trong lòng xúc động lạ.
Một
nội thị thay nến, dâng trà. Thấy đã khuya rồi mà nhà vua vẫn còn đọc sách, viên
thị tòng khẽ bẩm :
-
Muôn tâu, thần cúi xin thánh thượng đi nghỉ lấy sức để sớm mai cùng đại quân
trở về.
Nhà
vua ngừng đọc, gập quyển “Đường thi tam bách thủ” xếp gọn trên kỷ rồi nheo mắt
bảo :
-
Ngươi cứ vào ngủ trước, đừng đợi trẫm. Đêm nay tự nhiên ta thấy lòng dạ không
yên, có thể ở kinh sư đã xẩy ra chuyện gì.
Người
nội thị vốn quê Lam Kinh, được vào hầu nhà vua lúc ngài còn là Bình Nguyên
vương, rất được sủng ái. Tuy hoàng thượng nói vậy nhưng anh ta vẫn quỳ dưới
đất, đầu cúi xuống khẩn khoản bằng giọng nhỏ nhẹ :
-
Thần mong bệ hạ giữ gìn long thể.
Nhà
vua sẽ chau mày, hơi cao giọng :
-
Đã bảo cho ngươi đi nghỉ, cứ mặc trẫm.
Thời
gian lặng lẽ trôi. Chừng cuối giờ Tý, một trậm âm phong bất chợt thổi tắt cả
mấy ngọn nến trong hành điện. Nhà vua thấy ớn lạnh. Tầm hồ cừu lót lông cáo
trắng khoác ngoài hình như không đủ độ ấm. Ngài để nguyên cả xiêm y ngả người
trên kỷ, mắt đăm đăm nhìn ra quầng sáng bên ngoài tường hành cung. Cả gian điện nhuộm một thứ ánh sáng
xanh dịu màu lục nhạt. Từ thinh không vẳng xuống những thanh âm rất là ai oán :
-
Xin bệ hạ cứu mạng…
-
Nhà ngươi là ai? – Thánh Tông hơi run, không phải vì lạnh mà vì sợ, hỏi nhỏ,
giọng như bị hẫng – Ngươi… là ma quỷ ở xứ nào?
-
Thiếp là cung nhân, ngày trước đã được bệ hạ đoái thương. Thiếp bị hàm oan…
-
Hả ? – Nhà vua hất tấm chăn gấm, xốc áo bật dậy – Trời ơi ! Hoàng Lan.
-
Vâng ! Thần thiếp cúi mong xa giá về gấp…
Thánh
Tông đã kịp trấn tĩnh nhưng giọng vẫn như còn ngái ngủ :
-
Trẫm đã xuống chiếu, nội nhật ngày mai ban sư. Ta về là mọi việc đâu vào đấy.
Nàng đừng lo.
Bóng
ma rời đám vân vụ lờ mờ hiện hình thành
người con gái, quỳ xuống chắp hai tay ngang ngực :
-
Thần thiếp sợ không kịp.
-
Khanh nói sao ? – Nhà vua bị lạnh, ho khan mấy tiếng, giọng như chìm đi bởi bởi
tiếng gió thổi ràn rạt trên nóc điện.
Người
con gái bỗng đứng lên, sấn lại, kéo ống tay áo ngài ngự, giọng thảng thốt :
-
Bệ hạ ơi ! Trường Lạc hoàng hậu sắp xuống lệnh hành quyết…
Bị
giật mạnh, Thánh Tông chợt tỉnh. Thì ra một giấc chiêm bao. Ngài gọi giật giọng
:
-
Nội thị !
-
Dạ ! Thần đây. – Viên nội quan vẫn chưa dám ngủ, vén rèm bước vào.
-
Ngươi có thấy một cung nữ vừa vào đây không ?
-
Thưa không.
-
Các cửa ngoài vẫn đóng chứ ?
-
Muôn tâu, vẫn đóng.
Nhà
vua thở dài lẩm bẩm :
-
Vậy thì ở nhà chắc có chuyện rồi…
*
* *
Gió
bắc phay phay lạnh thấu xương. Mặt biển tím biếc một màu. Giữa trùng dương bao
la, đoàn thuyền chiến cuốn buồm. Các tay chèo xếp hàng hai bên nhịp nhàng quạt
nước. Ngồi trên lầu cao của chiếc ngự thuyền Phi Long cắm cờ vàng giữa trung
quân, nhà vua muốn mình mọc thêm đôi cánh để bay về kinh đô thật nhanh, chẳng
còn lòng dạ nào nghĩ đến bàn cờ đã được Chinh tây tướng quân Lê Thọ Vực bày sẵn
cũng như hai câu thơ nổi tiếng của ngài khi xuất sư chinh phạt Bồn Man được
Thảo tặc phó tướng quân Lê Nhân Hiếu hết lời tán tụng :
Bách
vạn sư đồ viễn khải hành
Xao
bồng vũ tác nhuận quân thanh
( Trăm vạn quân đi đánh cõi xa
Mui thuyền mưa dội nhuận quân ta)
Lúc
này, vị đương kim hoàng đế đăm chiêu suy ngẫm về một thời đã qua, khi còn là
hoàng tử thứ tư, được sách phong Bình Nguyên vương, ở kinh sư, cùng các thân
vương cưỡi ngựa, bắn cung, tập mười tám ban võ nghệ.
…Trường
đua xế về phía tây hoàng thành. Đó cũng là nơi tỷ thí võ nghệ của các thân
vương, hoàng tử. Nơi này chỉ cách cung Liên Hoa, Thủy Vân và Thụy Liên một
khoảng vườn trồng toàn những cây sấu cổ thụ, tán sum suê tỏa rộng, cao ngang
lầu Ngũ Phượng. Khu này nguyên là nơi ở của các phi tần được triều đình tuyển
về trước khi đưa vào nội cung hầu hạ nhà vua. Nhưng không phải bất cứ trinh nữ
nào cũng may mắn được đấng chí tôn ban ơn mưa móc. Không ít cô gái lúc vào cung
còn đầu xanh tuổi trẻ đến khi bị thải thì đã tóc bạc răng long mà chưa một lần
thấy mặt rồng.
Cung
Liên Hoa có một người con gái quê vùng Kinh Bắc, giọng quan họ ngọt ngào, các
ngón cầm kỳ thi họa đều thạo nhưng không gặp may. Nàng không có cái đẹp sắc sảo
mặn mà. Vẻ đẹp của nàng phải là người có con mắt tinh đời mới nhận ra, vì thế,
nhập cung từ tuần cập kê, nay đã tròn đôi chín mà vẫn sống lẻ loi. Vua Nhân
Tông còn quá trẻ, đang bận tập chính sự, hoàng thái hậu họ Nguyễn lại nghiêm
khắc và ích kỷ nên những thân phận bé mọn như nàng đành ôm bóng mỏi mòn.
Buổi sáng hôm ấy, các hoàng
tử tập múa thương và bắn cung. Bình Nguyên vương so tài với Lạng Sơn vương Nghi
Dân. Theo lệ, đầu thương được bọc giẻ nhúng nước vôi đặc. Người giám thí theo
lệnh đại tư mã Lê Thụ, cứ thấy vị vương nào trên áo giáp có nhiều vệt trắng thì
được coi là thua. Nghi Dân võ nghệ không tồi nhưng là người hung bạo. Trước,
vương được lập làm hoàng thái tử, sau vì sự lăng loàn của mẹ là chiêu nghi họ
Dương nên bị truất xuống hàng phiên vương , vẫn mang mối hận với Nhân Tôn. Có
lẽ vì thế mà khi luyện tập cùng các vương đệ, cặp mắt vị hoàng tử thất sủng lúc
nào cũng như có sát khí. Trận đấu sắp vào hồi kết. Ngọn thương của Tư Thành bay
loang loáng, xoay tít theo đúng đấu pháp, biến hóa như một trận hoa tuyết. Nghi
Dân bị dồn vào thế thủ, không còn giữ được bình tĩnh nữa, bèn ngả người về phía
sau, giật cương cho ngựa xoay ngang rồi đâm một nhát rất mạnh vào miếng hộ tâm
trên ngực hoàng đệ. Mũi thương chạm sắt trượt đi tuột miếng giẻ bọc. Tư Thành
tránh không kịp bị trúng khuỷu tay, máu xối ra làm vương lảo đảo, xuýt ngã
ngựa. Trên cửa sổ cung Liên Hoa chợt có tiếng thét. Thì ra bấy lâu nay vẫn có
một người cung nữ dõi theo các hoàng tử đấu võ.
Vết
thương không nặng lắm, chưa đầy nửa tuần trăng, Bình Nguyên vương lại phi ngựa
ra trường đua. Con tuấn mã bốc nước kiệu sát hàng sấu già, vị hoàng tử trẻ
ngước mắt nhìn lên ô cửa sổ, bên trong thấp thoáng một bóng giai nhân. Khoảnh
khắc nhất thời ấy, hình như không phải là vô tình, bốn luồng mắt giao nhau…
Chàng trai đa tình ghì cương, rướn người trên yên, muốn nhìn một lần nữa nhưng
cửa đã buông rèm.
Hôm
ấy, các vương phóng ngựa ra ngoài thành qua Cửa Bắc. Đại tư mã Lê Thụ đích thân
chỉ huy duyệt thủy trận trên sông Chèm. Chiều về, Tư Thành lỏng tay cương làm
như vô tình ngước nhìn cửa sổ lầu hoa. Cánh cửa khép hờ. Mặt trời chỉ còn cách
hàng sấu độ nửa con sào. Ánh chiều rực rỡ như dát vàng trên ngọn bảo tháp Liên
Hoa. Mái tam quan phủ ráng đỏ sừng sững vươn lên giữa cảnh hoàng hôn. Ráng đỏ
còn như vãi tung toé trên vòm tán những cây sấu đại thụ. Khoảng trời kinh thành
từ màu đỏ rực bỗng như có phép lạ biến rất nhanh thành vàng chanh. Chẳng bao
lâu, màu vàng chanh lại nhường chỗ cho trắng đục,và, khi chuông chùa Liên Hoa
ngân nga những tiếng đầu tiên thì màn đêm bắt đầu buông xuống. Đêm thượng huyền
thanh khiết, lặng lẽ lan tỏa và mượt như nhung. Đâu đó dưới chân hoàng thành có
tiếng mõ cá khua.
Bình
Nguyên vương vừa đến tuổi thành niên. So với Lạng Sơn vương, chàng có thân hình
cao lớn hơn, sức lực dẻo dai hơn. Đó là do vương chịu khó luyện tập võ nghệ,
tuy rằng thiên hướng của chàng là văn nghiệp chứ không phải võ công. Trên trán
vương có một vệt chàm lờ mờ giống hình chữ “vạn”, người ta thường thì thầm với
nhau, đấy là dấu hiệu của bậc đại quý. Đêm ấy Tư Thành không ngủ được. Vương bị
cặp mắt người cung nữ Kinh Bắc hút mất hồn. Dù mới chỉ thoáng nhìn chàng cũng
kịp nhận ra trong đôi mắt đen láy sâu thăm thẳm, thấp thoáng chút mơ màng kia
như có một thứ ma lực cuốn hút, không thể cưỡng lại được. Thao thức đến gần
sáng, Tư Thành nảy ra ý định, thế nào cũng phải tìm cách vào cung Liên Hoa gặp
người con gái ấy dù chỉ một lần.
Bình
Nguyên vương đi vòng vèo như là cố tình mua đường qua phủ Trung Đô, đến cửa Mạc
Thành, cấm vệ quân từ tốn ngăn chàng lại :
-
Dám xin điện hạ về cung cho, hoàng thượng đã có lệnh cấm vì đây là nơi ở của
các cung nhân.
Tư
Thành bực mình mắng :
-
Ta chỉ đi qua không được sao? Có việc hệ trọng cần gặp Quách thái giám.
Người
lính lễ phép hỏi :
-
Điện hạ cho chúng tôi xem tín bài ?
-
Ta có việc rất gấp, vội không kịp lấy tín bài.
-
Bẩm điện hạ không được đâu, nếu để ngài qua cửa là chúng tôi mất đầu.
Biết
không thể vào được, Tư Thành chán nản quay gót. Hai thị vệ đứng chắn cánh cửa
sơn son, tay cầm kích đặt chéo nhau, nhìn thẳng.
Có
lần vương vào vấn an mẫu thân ở cung Khánh Phương, phu nhân ngậm ngùi bảo :
-
Chúng ta sống được đến ngày hôm nay là nhờ ơn quan Phục Hầu, nay vì túc trái
tiền oan, ngài thọ nạn về chín suối. Mẹ có mình con như cây một cành, mong con
sớm thành gia thất để sau này tuổi già ta có chỗ dựa.
-
Ý mẹ là…
Phu
nhân khẽ gật đầu nhìn Tư Thành lựa lời thăm dò :
-
Quan Nhập nội hành khiển Tả xuân phường họ Phan có một tiểu thư vừa độ trăng
tròn…
Tư
Thành vội quỳ xuống đỡ bàn tay mẹ nhẹ nhàng nói :
-
Xin mẹ giữ gìn ngọc thể, đừng quá lo cho con, đợi ít lâu nữa rồi sẽ bàn chuyện
ấy.
Nương
nương lấy hai bàn ta búp măng trắng như ngà lặng lẽ vuốt tóc con trai:
-
Mẹ hỏi thật, cái hôm con tập với Lạng Sơn vương ở trường đua bị thương vào tay
là do vô tình hay có ý gì khác ?
Tư
Thành cúi đầu nói nhỏ :
-
Con nghĩ chắc không phải vô tình, vì lúc ấy, nhìn vào cặp mắt hoàng huynh con
thoáng thấy có chiều dữ tợn.
-
Ra thế ! – Phu nhân thở dài – Hôm ấy nhà vua đi đâu ? Mọi lần hoàng thượng
thường ngự xem các vương đệ luyện tập kia mà ?
-
Hôm ấy nhà vua đi săn với đô đốc Nguyễn Sư Hồi ở thành ngoại.
-
Vậy là ta hiểu. – Phu nhân chép miệng – Thôi, con về phủ đi.
Bình
Nguyên vương cúi đầu, khoanh tay, giọng lí nhí :
-
Thưa mẫu thân,còn một việc hệ trọng lắm, con muốn trình mẹ.
-
Còn việc gì nữa ?
-
Thưa… ở cung Liên Hoa…
Phu
nhân thoáng nhìn ra cửa, thấy hai thị nữ đang đứng bên rèm bèn phẩy tay bảo “ cho
các ngươi lui, khi nào ta gọi hãy vào”rồi mới hạ giọng hỏi :
-
Nào, bây giờ thì nói đi, vương tử có chuyện gì ở cung Liên Hoa ?
-
Thưa mẹ, có một người con gái…
-
Ta không hiểu vương tử muốn nói gì ? – Nương nương chợt thay đổi cách xưng hô,
nghiêm khắc nhìn con trai chờ nó nói ra cái điều mà bà đã mơ hồ nhận thấy.
-
Thưa mẫu thân, vào đúng lúc con trúng mũi thương của Nghi Dân thì trên cung
Liên Hoa có tiếng một cung nữ thét lên nghe thảm thiết lắm. Rồi những lần phóng
ngựa ra ngoài thành, mỗi khi nhìn qua rèm cửa, con đều thấy mắt nàng nhìn rất
lạ. Từ bấy đến nay con luôn …tơ tưởng đến nàng.
Vừa
nghe xong, phu nhân đã thay đổi sắc mặt :
-
Bây giờ con có còn là một hoàng tử của bản triều nữa hay không mà dám cả gan
làm việc bạo nghịch như vậy ? Con từng học lễ với Trần thượng thư và hàn lâm họ
Nguyễn, há lại chẳng biết cung Liên Hoa, Thủy Vân và Thụy Liên là nơi ở của các
phi tần hay sao ? Luật pháp triều đình vô cùng nghiêm ngặt, mẹ mong con cư xử
đúng đạo làm tôi.
Tư
Thành vẫn khoanh tay, cúi dầu lắng nghe, nhưng những lời phu nhân nhân nói chỉ
như lãng máng tận đâu đâu. Chàng thừa biết cái thứ điển chế lạnh như đá của
triều đình do chính ông chàng, cha thàng là Thái Tổ, Thái Tông đặt ra. Ôi ! Số
phận những người cung nữ. Đức Thái tôn trước lúc băng hà có đến hơn ba
trăm phi tần. Họ đều là những cô gái
xinh đẹp, đức hạnh mà lại phải sống cô
đơn, suốt những tháng năm dài chỉ quanh quẩn
trong chốn tiêu phòng trống vắng. Hôm hoàng thái hậu xuống chiếu thải
cung phi, Tư Thành thấy nhói trong tim niềm thương cảm. Bây giờ họ không nơi
nương tựa, không nghề nghiệp khả dĩ nuôi thân, biết đi đâu về đâu ? Mấy tháng
trước, đức Nhân Tôn., cũng theo lệ, tuyển mười sáu cung phi từ Kinh Bắc, Thượng
Hồng, Hạ hồng và thừa tuyên Sơn Nam về. Mười sáu mảnh đời thiếu nữ nhan sắc,
giỏi nữ công, thử hỏi trong số giai nhân ấy, ai sẽ có diễm phúc được vị hoàng
đế gần như còn trẻ con ấy để mắt tới ? Có lần đọc Đường Thi, chàng đã ngậm ngùi
cho thân phận của người phi tần tóc bạc trong cung Thượng Dương, suốt mấy chục
năm chờ đợi một cách tuyệt vọng, để rồi thời gian dài đằng đẵng đã biến cô gái
xinh đẹp thành bà gìa tóc bạc da mồi.
Vương
không dám nài thêm vì chàng biết nương nương rất nghiêm cẩn trong trong đạo
quân thần. Sinh thời, Thái tôn hoàng đế cũng phải tôn trọng bà nhất mực, huống
hồ đây là việc có quan hệ đến tam cương, ngũ thường, phu nhân không thể nhắm
mắt làm ngơ. Trước khi Tư Thành lui gót, phu nhân còn dặn :
-
Con là vương đệ, phải giữ trọn đạo làm tôi. Đừng làm gì hại đến vương hóa.
Bình Nguyên vương cúi đầu thở
dài, ngước cặp mắt buồn từ biệt mẹ. Chàng rảo bước về phủ, lòng nặng những ưu
tư.
*
* *
Hôi
hoa đăng năm ấy mở vào đêm hai mươi bảy tháng giêng, sau tết nguyên tiêu. Hội
bắt đầu có lệ từ năm Thuận Thiên thứ tư đời Thái Tổ, mở vào ba đêm không trăng
xung quanh hồ Lục Thủy. Những đêm hoa đăng như thế, từ quận chúa, tiểu thư đến
các phi tần, nội thị đều nô nức rủ nhau xuất cung. Cuối tháng mạnh xuân, trời
vẫn còn se lạnh. Đêm càng khuya các nam thanh nữ tú càng dập dìu chen vai thích
cánh nhau. Từng tốp vương tôn, công tử, tiểu thư xiêm áo lộng lẫy tỏa về bốn
phương, tám hướng chung quanh hồ. Trong đám tài tử giai nhân trảy hội đêm nay
có một vị hoàng tử cải trang. Tư Thành đi hội không cốt để xem đèn hoa. Trong
tâm trí chàng lúc nào cũng canh cánh một nỗi niềm, ấy là đôi mắt người con gái
trên lầu Liên Hoa.
Bình
Nguyên vương phải mất khá nhiều thời gian, tìm đến ngày thứ hai mới thấy người
cung nữ lẫn trong đám chị em đang thắp hương trước đền Thánh Mẫu. Đợi cho mọi
người khấn vái xong, khi đám cung nhân rủ nhau vào nhà Thủy Đình lên gác Nghênh
Phong chàng mới rảo bước đến cạnh Hoàng Lan, giọng thì thầm chỉ đủ cho nàng
nghe thấy :
-
Nàng ở cung Liên Hoa …
Người
con gái giật mình, hàng mi cong chớp chớp, e lệ nhìn Bình Nguyên vương:
-
Điện hạ… cũng đi hội Hoa Đăng ?
Tư
Thành lấy ngón tay đặt ngang môi :
-
Nàng đừng để mọi người biết ta là ai.
Người
cung nữ đi chậm lại, mặc đám chị em ríu rít kéo nhau lên lầu Vọng Nguyệt. Mắt
nàng long lanh. Bình Nguyên vương không dằn lòng được, trống ngực đập liên hồi
nhưng vẫn đủ can đảm đón ánh mắt Hoàng Lan. Những ngọn đèn lồng như tan biến
vào bóng đêm mênh mông. Trước mắt chàng chỉ còn lại ngọn lửa kỳ diệu từ đôi mắt
huyền của người con gái, lúc gần lúc xa, lúc như thiêu đốt, lúc lại ve vuốt mơn
trớn chàng hoàng tử trẻ tuổi còn chưa trải nghiệm tình trường nhưng đa cảm.
Đêm
hôm sau, tức là đêm cuối cùng của hội Hoa Đăng, Tư Thành và người cung nữ lại
gặp nhau trước quán Vân Tiêu. Hai người cùng thắp hương, xóc thẻ xin cô đồng
Huệ An đoán số. Cô Huệ An nhìn Tư Thành chằm chằm, bỗng ghé sát tai chàng nói
nhỏ : “ Công tử có tướng lạ, tôi sơ tài không dám mua rìu qua mắt thợ”. Quay
sang người cung nữ, cô Huệ An lại bảo : “ Cô cũng là quý nhân nhưng mệnh bạc”.
Lúc sắp chia tay, người về vương phủ, kẻ lại lầu hoa, Bình Nguyên vương đã bạo
dạn hơn, chàng cầm tay nàng khẽ bảo :
-
Nhất định ta phải đón nàng về vương phủ phong làm chính thất.
Hoàng Lan lắc đầu :
-
Điện hạ lầm rồi. Thiếp là phi tần của tiên đế, điện hạ làm sao dám vượt phép
triều đình .
Tư
Thành cúi đầu. Chàng như người vừa tỉnh cơn mê, thẫn thờ nhìn mặt hồ lấp loáng
ánh đèn bằng cặp mắt ảm đạm :
-
Mẹ ta cũng đã từng nói thế, - chàng ra
chiều tư lự - nhưng ý ta đã quyết, vì giữa ta và nàng như là có tiền duyên,
không ai ngăn cản được.
-
Người con gái vẫn nhỏ nhẹ :
-
Điện hạ đừng nóng vội, nếu có thương đến thân phận thiếp thì phải chờ thời.
Thiếp tuy vào cung đã được mấy năm nhưng chỉ là hạng nữ tỳ, chưa có danh phận
gì, Xa quê hương, xa cha mẹ thiếp thấy buồn lắm. Cái hôm điện hạ đấu thương,
thiếp vô tình nhìn thấy ánh mắt Lạng Sơn vương,
tự nhiên lo cho tính mệnh điện hạ nên nông nổi, ngu dại chót kêu lên. Từ
nhỏ thiếp vốn sợ máu, mong điện hạ xá cho.
Tư
Thành vẫn cúi đầu ngẫm nghĩ. Trước khi từ biệt chàng còn băn khoăn :
- Hay là ngày mai ta vào cung xin
với hoàng thượng ? Anh ta là người rộng lượng chắc không nỡ chối từ.
Hoàng
Lan lắc đầu :
-
Chỉ mong sau này điện hạ đừng quên tiện thiếp là được. Giữa cõi đất trời mù mịt
này, mọi thứ đâu đã phân định rạch ròi, điện hạ còn trẻ, còn sự nghiệp quốc gia
trọng đại, vội gì tính chuyện trăm năm.
-
Nàng nói thế là thế nào ? Ta chịu không hiểu được.
Người
cung nữ lại nói :
-
Đó là lời của một người thầy tướng người Hạ Hồng nói với thiếp hôm qua ở chân
tháp Huyền Thiên.
*
*
*
Vào
đêm mồng ba tháng tám năm Diên Ninh thứ sáu, khoảng cuồi giờ Tý, Tư Thành nghe
thấy bên cung Long Phù có tiếng hò reo. Chàng vội nhỏm dậy khoác áo trèo lên
lầu. Phía cửa Đông Hoa đèn đuốc sáng như sao sa. Biết trong cung có biến, Tư
Thành liền gọi gia nhân sang cứu giá. Cả bọn vừa đến cửa điện Thái hòa thì gặp
Phạm Đồn dẫn một toán cấm quân chừng ba bốn trăm tên chắn ngang đường bảo :
-
Điện hạ cứ về phủ, sáng mai hoàng thượng sẽ có chỉ dụ mời vào cung, bây giờ
vương ở đây không tiện, sợ nguy đến tính mạng.
Bình
Nguyên vương chống gươm nhìn xoáy vào mắt viên Chỉ huy phó hộ phiên hất hàm hỏi :
-
Trong cung đã xảy ra chuyện gì, tướng quân nói cho ta hay.
Phạm
Đồn ngạo nghễ xốc gươm, đưa mắt nhìn đám cấm quân, giọng gọn lỏn :
-
Hoàng thượng bị bạo bệnh băng đột ngột ở tẩm cung. Nước không thể một ngày
không vua, vì vậy Lạng Sơn vương tạm thời thay quyền coi chính sự.
-
Trời ơi ! Hoàng huynh ! – Bình Nguyên vương ngửa mặt kêu to ba tiếng rồi khóc
nấc lên.
Tư
Thành bần thần như người mắc chứng hoang tưởng, định quay gót nhưng chợt nhớ
ra, đây là thời cơ có một, nếu bỏ lỡ sẽ phải ân hận suốt đời. Chàng rỉ tai đám
gia nhân tâm sự của mình và bàn với họ tìm cách đưa cô gái Kinh Bắc ra khỏi cấm
thành. Một gia nhân thưa :
-
Các cửa trong cấm thành lúc này chắc bọn Trần Lăng đã điều lính cấm vệ canh giữ
cẩn mật, đường vào chỉ có một lối duy nhất qua sân cung Khánh Phương. Điện hạ
phải nói khó với nương nương, may ra…
-
Không được! – Bình Nguyên vương xua tay gạt đi – Nàng là cung nữ của cha ta,
phu nhân không cho phép làm điều đó. Ta có một kế. Phía sau cung Liên Hoa là
trường đua, các ngươi có thấy những cây sấu cổ thụ trong cái vườn ấy không ?
Một
gia nhân còn trẻ có lẽ chỉ trạc tuổi Bình Nguyên vương khẽ reo lên :
-
Thế ra điện hạ định trèo cửa sau …
Tư
Thành mắng :
-
Khẽ cái mồm…Thế này. Ngay bây giờ các ngươi kiếm cho ta mấy sợi dây thừng và
khoảng ba bốn chục vuông lụa. Một người trèo lên ngọn cây xem động tĩnh, nếu
thấy yên thì ra hiệu cho ta. Lương Khoan và Tạ Nhậm thì tìm cách chuyền vào cửa
sổ đứng canh chừng. Mọi việc còn lại cứ để mặc ta. Ngoài gươm ra nhớ phải mang
theo cả đoản đao.
Trong
cung vắng tanh nhưng ở tầng thứ nhất có tiếng người kêu khóc. Bình Nguyên vương
rượt lên. Lúc này đèn nến đã tắt. Chàng căng mắt nhìn và bỗng giật mình khi
thấy trước mặt bày ra cảnh tượng thật khủng khiếp. Một cung nữ đầu tóc rối
tung, xiêm y rách tả tơi đang cố chống đỡ tuyệt vọng với hai tên vô lại trùm
mặt nạ đen. Chàng nhận ra người cung nữ chính là Hoàng Lan. Máu dồn lên mặt,
không kịp gọi tùy tùng, Bình Nguyên vương rút gươm xông vào một trong hai tên
đang lôi kéo cô gái Kinh Bắc. Tên này bị bất ngờ, trở tay không kịp. Mũi kiếm
của Tư Thành xuyên thấu mạng sườn bên trái, hắn rú lên một tiếng rồi ngã
nghiêng người, đầu đập xuống bậc cửa. Tên thứ hai to lớn như hộ pháp vội rời
nạn nhân, vồ ngay thanh kiếm của gã vừa ngã lừ lừ tiến lại Bình Nguyên vương :
-
Ngươi là đứa nào mà dám can thiệp vào công việc của chúng ta, muốn toi mạng hả
?
Vừa
dứt lời lập tức hắn khai triển thế “Độc cước đả quần hùng” lia chân trái đá
mạnh làm Tư Thành bị dính đòn.
Hoàng
Lan, lúc này đã qua cơn hốt hoảng, thấy nguy bỗng thét lên :
-
Kìa, điện hạ, nó có kiếm…
Nghe
hai tiếng “điện hạ” tên hộ pháp sững người. Lúc ấy trời đã sáng mờ mờ. Hắn lấm
lét nhìn vị hoàng tử một thoáng rồi quẳng gươm chạy ngược lại phía cung Thụy
Liên. Nhưng hắn không thể thoát. Lương Khoan và Tạ Nhậm từ lớp cửa thứ hai đã
kịp thời xuất hiện. Tạ Nhậm túm tóc bắt tên lưu manh quỳ xuống. Lương Khoan ấn
mũi kiếm vào đầu hắn hỏi :
-
Mày có biết vừa đọ kiếm với ai không?
-
Trước không biết, giờ thì biết là Bình Nguyên vương.
-
Chúng mày ở đâu đến đây định cưỡng bức người cung nữ ?
Tên
hộ pháp giương cặp mắt trắng đã đã mất hết thần khí cầu khẩn :
-
Tôi là người của tướng quân … Phạm Đồn, cúi xin điện hạ tha mạng.
-
Không được ! Tội chúng mày đáng phanh thây trăm mảnh.
Cùng
lúc ấy, Bình Nguyên vương dìu người con gái Kinh Bắc về phòng nhẹ nhàng
bảo :
-
Nàng thu xếp xiêm áo, tư trang nhanh lên, chốc nữa ta sẽ đưa đi lánh nạn.
Hoàng
Lan như người mất hồn, mặt trắng bệch, sợ đến nỗi không thể khóc được. Nàng quỳ
xuống thổn thức :
-
Thiếp xin kết cỏ ngậm vành, nguyện làm thân trâu ngựa để đền ơn cứu mạng.
Bình
Nguyên vương vội đỡ nàng dậy :
-
Còn chuyện gì muốn nói hãy để sau này. Việc gấp lắm rồi, nếu còn dùng dằng ở
đây, chính ta cũng khó toàn tính mạng.
Tư
Thành biết năm người không thể thoát ra bằng cửa chính vì bây giờ quân cấm vệ
đã canh gác chặt chẽ Tử cấm thành, bèn bảo gia nhân xé lụa quấn ngang người
Hoàng Lan rồi ròng dây thả xuống chân tường phía vườn sấu. Bên dưới đã có cỗ xe
song mã chờ sẵn. Hai gia nhân về phủ còn cả bọn lên xe, kéo rèm che cửa rồi
quất ngựa phóng ra ngoài thành qua Cửa Bắc.
*
*
*
Ngày
mồng sáu tháng sáu năm Canh Thìn, sau vụ biến ở Kinh thành, các đại thần trong
triều xướng nghĩa giết bọn nghịch tặc Phạm Đồn, Phan Ban, phế bỏ Lạng Sơn
vương, cho xe đến Gia Để đón Bình Nguyên vương lên ngôi hoàng đế.
Nhà
vua nhớ đến Hoàng Lan, ngày mười tám tháng sáu, cho người đến chùa Bồ Đề đón
người con gái Kinh Bắc về cung phong làm tiệp dư. Quang Thục hoàng thái hậu mãi
sau mới biết việc này. Bà giận Tư Thành lắm, nhưng lúc này chàng đã là Nam
thiên động chủ, bà đành phải nén lòng, chờ dịp khuyên giải dần.
Nhà vua còn trẻ, thân coi
chính sự. Xung quanh ngài vẫn còn một số đại thần vốn từng nằm nằm gai nếm mật
từ thời Thái Tổ hết lòng phò trợ. Người trung chính, liêm minh trong triều không ít nhưng bọn siểm nịnh bợ
đỡ thô bỉ cũng nhiều vô kể. Niềm say mê cuồng nhiệt, tính ưa phóng khoáng,
thích cưỡi ngựa đi săn ngoại thành của một thân vương hào hoa phong nhã giờ đây
dường như không còn nữa. Trên vai chàng hoàng thái tử trẻ nặng trĩu gánh giang
sơn. Thế là chỉ sau mấy tháng coi chầu nhà vua gầy sút hẳn.
Vào
rằm tháng tám, ngày lành, các đại thần, dẫn đầu là Thái bảo Lễ sơn hầu Lê Niệm
đến cung Khánh phương bệ kiến Quang Thục hoàng thái hậu, xin lập con gái thứ ba
Điện tiền đô đốc Nguyễn Đức Trung làm chính cung hoàng hậu. Nguyễn Thị Mai Loan
có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành, con nhà gia thế nên được thái hậu chuẩn y
ngay. Là người có nền học vấn sâu rộng, lại giầu lòng nhân ái, Lê Thánh Tông
lúc nào cũng giành một tình cảm đặc biệt cho tiệp dư Hoàng Lan. Trường Lạc
hoàng hậu không thích chuyện đó. Cô gái Kinh Bắc lúc nào cũng như cái gai trước
mắt bà chính cung.
Trong
nhà quan Điện tiền Nguyễn Đức Trung có một cô đồng nghe đồn rất giỏi bùa chú và
phù phép. Một hôm Trường Lạc hoàng hậu về thăm nhà ngỏ ý với phu nhân chuyện
hoàng thượng đối với mình không được đằm thắm. Nàng khóc đỏ cả mắt, vừa khóc
vừa than thân trách phận :
-
Tất cả chỉ tại tiệp dư Hoàng Lan. Nó có giọng hát quan họ rất hay làm nhà vua
say mê mẩn. Con không thích những thứ xướng ca quê mùa ấy nên người chẳng đoái
thương, sau này nó mà sinh hoàng nam thì ngôi vị của con khó mà giữ được.
Nghe
con gái than thở, phu nhân suy nghĩ rất lâu nhưng không nói gì mà chỉ khuyên
nàng hãy bình tâm rồi gọi cô đồng vào phòng riêng. Hai người ở trong đó gần nửa
giờ. Lúc Trường Lạc hoàng hậu sắp về cung, phu nhân đưa cho một gói nhỏ bọc vải
điều, bảo:
-
Trong này có một hình nhân và ba lá bùa đã được phù phép, con hãy sai người
thân tín làm như lời ta dặn đây. - Bà cúi xuống thì thầm chỉ đủ hai mẹ con nghe
– Trong khi ân ái, con lựa lời nói cho hoàng thượng rõ, thế nào việc cũng
thành.
Hôm
ấy Thánh Tông đi duyệt đội tượng binh về. Nhà vua có vẻ hơi mệt. Trường Lạc
hoàng hậu sai cung nữ sửa soạn thang lan để hoàng thượng tắm. Lát sau, thị nữ
dâng món chân giò hầm bát bảo. Nhà vua ăn xong thấy khỏe ra. Sáng hôm sau,
trước khi tiễn nhà vua về cung, Trường Lạc mới quỳ xuống, giọng nhỏ nhẹ :
-
Thần thiếp cúi mong bệ hạ cẩn trọng giữ gìn sức khỏe để trăm họ còn được nhờ
phúc lâu dài.
Thánh
Tông cười lớn, vừa nhấp chén trà sen vừa hỏi :
-
Nàng nói thế là thế nào ? Ta đang độ tráng niên, còn khỏe lắm, sao đã lo đến
chuyện mai sau ?
-
Thần thiếp gần đây có được nghe vài câu chuyện không hay ở Bắc cung có phần
quan hệ đến bệ hạ.
Hánh
Tông chau mày :
-
Chuyện gì ở Bắc cung ? Ta nghĩ Hoàng Lan là người hiền thục, nhu thuận, lại
được học hành, như thế chẳng phúc cho hoàng gia hay sao ?
Trường
Lạc hoàng hậu mỉm cười, chiếc răng khểnh bên trái hơi hé ra giữa hai làn môi đỏ
mọng làm nàng đẹp một cách mê hồn. Giọng nàng đầy vẻ quyến rũ :
-
Thiếp coi trọng tính mệnh hoàng thượng hơn cả ngàn lần tính mạng mình nên rất
đỗi hoảng sợ khi nghe người ta nói đến Bắc cung hình như có giấu một hình nhân
và mấy đạo bùa ở gầm giường, dụng tâm yểm phép, nhằm mê hoặc hoàng thượng…
Thánh
Tông thoáng giật mình, giọng nghi hoặc :
-
Ai nói với khanh chuyện ấy ?
-
Thần thiếp mới chỉ nghe đám cung nhân bàn tán, chưa chắc đã đúng, mong thánh thượng
lượng thứ. – Hoàng hậu ý tứ liếc nhà vua bằng cặp mắt nhung đầy khêu gợi –
Nhưng mà lòng người bí hiểm khôn lường, cúi xin hoàng thượng cho người xét hư
thực, nếu không đúng thì thật là may.
Sáng
hôm sau, hai thái giám có lính cấm vệ đi kèm đến Bắc cung. Hoàng Lan sợ vì nàng
chưa biết chuyện gì xảy ra. Chưa đầy một khắc, bọn thái giám đào được ở chân
giường bên trái, phía góc tường, một hình nhân bằng gỗ vông tạc hình nhà vua và
ba đạo bùa bát quái chôn xung quanh. Thánh Tông giận lắm liền sai Chưởng vệ nội
đình bắt Hoàng Lan giam vào ngục tối chờ bộ Hình định tội.
Biết
chuyện, Trường Lạc hoàng hậu quỳ xuống trước Thánh Tông, giọng rầu rầu :
-
Tội của Bắc cung thật đáng chết, song vì đàn bà cạn nghĩ, nghe người ta xúi
giục làm xằng, xét tình cũng nên thương, cúi xin thánh thượng mở lượng hải hà,
tước chức tiệp dư, giam vào lãnh cung.
Thánh
tông không ngờ đấy là mưu độc của họ Nguyễn, trong lòng vô cùng oán hận Hoàng
Lan, ngay chiều hôm ấy hạ chỉ thu hồi danh hiệu đã ban, cho mặc y phục xanh rồi
đưa nàng vào phòng biệt giam.
Mới
chỉ có mấy ngày mà Hoàng Lan tiều tụy như vừa ốm một trận thập tử nhất sinh.
Hằng ngày, vẫn có nữ tỳ hầu hạ cơm nước nhưng nàng ăn không ngon, ngủ không
yên, tâm trạng lúc nào cũng thảng thốt. Nàng không hiểu tự nhiên ai đã gieo tai
họa cho mình. Nàng yêu nhà vua với tấm tình nồng nàn nhưng chưa bao giờ tin bọn
đồng cốt bóng gió quàng xiên.
Hoàng
Lan sinh ra trong một gia đình nền nếp ở hương Cổ Pháp. Cha nàng trước làm một
chức quan nhỏ ở trấn Kinh Bắc, sau từ nhiệm về quê dạy học. Mẹ nàng là một
“liền chị” đẹp, nổi tiếng hát hay của mười tám làng quan họ trong vùng. Nàng
thừa hưởng được cái vẻ sắc nước hương trời của mẹ và tư chất thông minh của
cha. Đến tuần cập kê, Hoàng Lan đã mười phần xinh đẹp. Một thầy tướng làng Cổ Đô
đất kinh kỳ, có lần qua hương Cổ pháp nhìn thấy nàng gánh nước. Ông ta ngắm sắc
diện nàng một thoáng rồi ngậm ngùi bảo gã tiểu đồng : “ Người con gái kia có
quý tướng nhưng tiếc rằng yểu mệnh, bất đắc kỳ tử”.
Chuyện
bắt đầu từ mùa xuân năm Mậu Ngọ, vua nhân Tông xuống chiếu tuyển cung phi. Trấn
Kinh Bắc kén được ba người, trong đó có Hoàng Lan. Năm ấy nước sông Nguyệt Đức
lớn ngập cả một vùng từ Thị Kiều đến Quế Ổ, Võ Giàng. Bọn nội nhân Lục viện
phải đưa cung nữ về Kinh bằng thuyền. Cảnh chia ly buồn thảm lắm. Trước khi
xuống thuyền, Hoàng Lan trải chiếu cạp điều giữa nhà, lạy bố mẹ mỗi người ba
lạy. Bà mẹ thương con nước mắt vòng quanh. Ông bố mặt buồn rười rượi, gạt lệ
quay đi. Hoàng Lan ngậm ngùi nói :
-
Con đi chuyến này chắc không trở về, đành cam tội bất hiếu với cha mẹ, chỉ cầu
mong ở nhà song thân được hai chữ bình an.
Đám
rước chị em xuống thuyền về kinh sư có phường bát âm tấu khúc “Lưu Thủy” nghe
rất rộn ràng mà lại cảm thấy như kèn tiễn hồn người chết về nơi chín suối.
Nàng
được ở cung Liên Hoa. Như có sự dàn xếp của Tạo hóa, cửa sổ phía sau cung lại
nhìn thẳng xuống trường đua ngựa. Nó được phân cách với trường đua bằng vườn
sấu cổ thụ. Nhìn từ xa, vườn có vẻ rậm rạp, um tùm, nhưng đến gần lại hóa ra
thoáng đãng bởi cây cao, tán rộng, ban ngày vẫn có ánh mặt trời. Phút giây đầu
tiên quyết định số phận bi đát của nàng lại chính là khoảnh khắc nàng bắt gặp
ánh mắt Bình Nguyên vương. Khi chàng bị mũi thương của Nghi Dân đâm trúng tay,
nàng hốt hoảng bởi do không tự kiềm chế được tình cảm chứ chẳng phải vì sợ máu.
Từ đó, mỗi lần Tư Thành phóng ngựa đi săn, qua cửa sổ, bao giờ chàng cũng ghì
cương chậm lại, ngước mắt tìm bóng dáng người đẹp.
Nàng thẫn thờ, tựa người lên
chiếc gối lông ngỗng, mắt đăm đăm nhìn khoảng không gian nhỏ hẹp của căn phòng trống
trải. Phút chốc, gương mặt tuấn tú, quả quyết của nhà vua chợt hiện ra. Những
hồi ức ngọt ngào pha lẫn vị đắng cay dần dần sống lại. Nó có đường nét, góc
cạnh cụ thể như đang hiển hiện trước mắt rực rỡ, lung linh như một giấc mơ đẹp.
Này đây, Bình Nguyên vương trong đêm hội Hoa Đăng. Chàng cải dạng thành một
công tử Thăng Long thành, áo gấm xanh, hoa vàng, đầu quần khăn nhiễu Tam Giang,
vụng về cầm tay nàng dưới gốc cây lộc vừng già bên hồ Lục Thủy. Này đây, hoàng
tử Lê Tư Thành, tay lăm lăm thanh bảo kiếm đánh ngã tên vô lại, cứu nàng khỏi
bị ô nhục trong cái đêm Lạng Sơn vương sát hại đức Nhân Tôn tiếm ngôi. Và đây
nữa, nơi Bắc cung yên tĩnh, nàng lựa
phím đàn hát cho đương kim hoàng đế khúc quan họ “Ngồi tựa mạn thuyền”. Hôm ấy
đức vua vui lắm, lúc cao hứng ngài còn đọc cho nàng nghe bài thơ Nôm “Vịnh năm
canh” mới sáng tác theo thể Đường luật và một bài tứ tuyệt bằng chữ Hán của
Đông các hiệu thư Thái Thuận vịnh bọn trẻ con bắt cáy bên sông. Giọng bình của
nhà vua vừa ấm vừa truyền cảm làm nàng vô cùng xúc động.
Bây
giờ đã có đủ thời gian suy xét, nàng thường nghĩ đến Trường Lạc hoàng hậu. Lệnh
bà quả là một tuyệt thế giai nhân, lại ở ngôi chính cung, còn ai dám cả gan
nhòm ngó. Vậy thì tại sao hoàng hậu lại đối xử với nàng, một cung nhân yên phận
tiểu tinh, như kẻ tình địch đáng gờm? Hoàng hậu có đôi mắt thật đẹp, nhưng mỗi
khi lệnh bà nổi giận, đôi mắt ấy long lên, sắc như dao, phóng ra những tia sắc
lẹm có thể xuyên thấu gan ruột người khác. Nữ tỳ thân tín nhất của nàng qủa
quyết rằng, chính Trường Lạc hoàng hậu đã gây ra cái án chết người trong Bắc
cung. Ở nơi màn loan trướng phượng này nàng không tìm được cuộc sống yên bình.
Giờ nàng đang ở giữa hang hùm, nọc rắn, nhất cử nhất động đều phải giữ gìn.
Tính mệnh đang như ngàn cân treo sợi tóc. Nàng còn hiểu thêm một điều, cái việc
hoàng hậu gia ân cho mình chưa được chết chẳng qua là thủ đoạn thâm độc. Lệnh
bà muốn cung nữ Hoàng Lan sống mòn mỏi trong lãnh cung để thỏa mãn cơn ghen.
Hoàng
Lan đã có thai đến tháng thứ bảy nhưng tuyệt nhiên không dám nói với ai ngoài
người nữ tỳ thân tín. Trường Lạc hoàng hậu biết chuyện này chắc tính mệnh nàng
và đứa con trong bụng khó bảo toàn. Đã có lúc không chịu được sự hắt hủi trong
cô đơn, nàng định quyên sinh. Chỉ một chén thuốc độc hay vuông lụa trắng là xong.
Thế là nợ đời trả hết. Nàng sẽ đi về cõi vô cùng với tâm trạng thanh thản như
vừa trút khỏi vai gánh nặng đường xa. Có điều, mỗi khi nghĩ đến cái chết, hình
ảnh Bình Nguyên vương ngập ngừng cầm tay nàng trong đêm Hoa Đăng lại hiện ra.
Nhà
vua bây giờ đâu còn là hoàng tử Bình Nguyên vương thuở nào. Sau khi lên ngôi,
ngài cho tuyển hàng trăm cung nữ mà phần lớn đều vô cùng xinh đẹp. Rồi còn công
việc triều chính luôn bận rộn, chắc gì còn nhớ đến nàng. Từ xưa đến nay, các
bậc vương giả có bao giờ chung tình, điều ấy nàng đã biết.
Trời
chiều. Vào lúc hoàng hôn vừa tắt, ráng đỏ chuyển dần sang màu vàng chanh, rồi
chỉ trong chốc lát lại biến thành màu chàm, khu biệt cung yên ắng, rờn rợn như
mộ địa. Hoàng Lan gọi người tùy nữ là Kim Duyên, hỏi :
-
Này em, mấy hôm trước ta nhác thấy một người lính chăn ngựa có dáng quen quen,
đã dò hỏi được chưa ?
Người
nữ tỳ, vốn là đứa trẻ mồ côi được nàng cưu mang, đến bên giường nói nhỏ :
-
Thưa tiệp dư, người ấy quê làng Hạ Diềm, trấn Kinh Bắc…
-
Chả lẽ lại là…- Hoàng Lan chợt lẩm bẩm rồi lại lắc đầu – Từ nửa tháng nay, mỗi
khi mở cửa sổ phía sau trông ra dãy chuồng ngựa bao giờ cũng thấy anh ta.
-
Thưa …, hôm qua anh ấy có chuyển lời hỏi thăm nương nương.
-
Thì ra người ấy vẫn không quên… - Nàng thở dài – Chẳng hiểu chàng đăng lính từ
bao giờ mà lại sung vào lính mã phu.
Nữ
tỳ Kim Duyên hình như biết khá rõ về người lính. Cô ta thong thả kể :
-
Anh ấy đăng lính đã ba năm, vì có sức khỏe mà lại biết chữ nên được phiên chế vào quân Thiết Đột, gần
đây chẳng hiểu sao lại xin sang làm lính coi ngựa, trông lúc nào cũng buồn lắm.
Kim
Duyên càng nói tâm trạng Hoàng Lan càng rối như tơ vò, bởi vì hơn ai hết, nàng
hiểu người mã phu. Chàng là Phan Tuyển, trai Hạ Diềm, nổi tiếng là một “liền
anh” quan họ. Chàng và nàng đã từng gặp nhau mấy mùa hội xuân. Hai người quyến
luyến nhau lắm dẫu biết rằng, từ xa xưa đã có lệ, trai gái các làng “quan họ”
chỉ dược kết bạn chứ không được kết duyên vợ chồng. Hội Lim năm Giáp Ngọ kéo
dài đến năm ngày mà các “liền anh”, “liền chị” vẫn chỉ thấy như trong gang tấc.
Họ hẹn sẽ lại gặp nhau ở Hội Diềm năm sau. Ấy thế mà đối với Hoàng Lan, cái năm
sau ấy không bao giờ còn nữa. Nàng như cánh hoa trôi giạt, chàng phẫn chí đăng
lính. Oái oăm thay, tạo hóa chẳng biết vô tình hay hữu ý, lại sắp đặt cho họ
gặp nhau trong hoàn cảnh này.
Ba
hôm sau, nhằm ngày Canh Thìn, Kim Duyên bước vào lẳng lặng kéo rèm rồi đưa cho Hoàng Lan một
mảnh giấy. Nàng mở ra. Trong tờ giấy gió mỏng dính màu trắng đục chỉ vẻn vẹn có
mấy chữ viết theo lối đá thảo “ Phải đề phòng độc dược”. Nàng thấy lạnh toát
sống lưng. Nhà vua thì ngự giá thân chinh đã mấy tháng. Tả đô đốc Lê Hy Cát
quyền việc nước, là người trung chính nhưng nhu nhược, lại bị bọn siểm nịnh
Trần Phong, Nguyễn Đình Mỹ lấn lướt. Quyền hành thực sự lúc này là ở Điện tiền
Nguyên Đức Trung và Trường Lạc hoàng hậu. Ôi , kiếp phù sinh ! Thật đau đớn cho
thân phận đàn bà.
Một
lần Kim Duyên phát hiện trong bình nước uống có nhân ngôn. Từ đó, tất cả đồ ăn
thức uống từ ngoài đưa vào đều cho con mèo vàng ăn trước. Con mèo rất tinh
khôn, có tài đánh hơi. Trước những món ăn có độc dược bao giờ nó cũng ngửi hít
rất kỹ, kêu mấy tiếng thảm thiết rồi
lảng.
Gọi
là lãnh cung nhưng căn phòng của nàng cũng không đến nỗi chật. Phòng có hai
buồng, một của nàng, một dành cho Kim Duyên. Nàng không được ra ngoài, nhất cử
nhất động đều bị nội giám theo dõi. Ngay cả việc người lính chăn ngựa trao mảnh
giấy cũng phải khó khăn lắm nàng mới nhận được. Vào giờ Sửu ba khắc ngày mười
hai, Hoàng lan đau bụng. Nàng có cảm giác là mình đang chuyển dạ nên gọi Kim
Duyên vào ở bên cạnh. Cơn đau âm ỉ kéo dài làm Hoàng Lan tức thở. Kim Duyên khẽ
vuốt ngực cho nàng. Chừng hai giờ sau thì Hoàng Lan mê mệt không biết gì nữa.
Ngọn nến cháy leo lét, nhựa chảy xuống bám đầy chân đài. Người nữ tỳ đang khẽ
lay gọi Hoàng Lan thì bên ngoài có tiếng gõ cửa. Cô ta toan im lặng giả vờ ngủ
say nhưng tiếng gõ quá mạnh đành phải ra rút chốt. Hai người đàn bà lạ mặt và
một thái giám trẻ cầm kiếm xô cửa bước vào, nói như ra lệnh :
-
Nữ tỳ Kim Duyên về buồng mình, việc lâm bồn của cung nhân có quan thái y lo.
Kim
Duyên hốt hoảng chắp tay, mắt chớp chớp :
-
Xin để tôi ở lại vì nương nương sức yếu…
Gã thái giám mặt lạnh như
tiền , gắt :
- Cho ngươi ra ngoài. Sức khỏe cung nhân đã có
thái y.
Người
đàn bà có bộ mặt đỏ như mặt con đồng đang bị ốp, cặp môi mỏng dính thô bạo đẩy
Kim Duyên. Cô nữ tỳ lập tức bị hai lính cấm vệ vừa xuất hiện ngoài cửa kéo tuột
đi.
*
*
*
Sáng
ngày mười ba, trong nội cung loan truyền một tin khủng khiếp, cung nhân Hoàng
Lan sinh ra một quái thai. Việc ấy lập tức được trình lên Trường Lạc hoàng hậu.
Lệnh bà bèn truyền chỉ đem chôn cái cái quái thai ấy rồi bắt Hoàng Lan giam vào
ngục tối phía sau dãy chuồng ngựa.
Hoàng
Lan biết mình sẽ chết. nàng dường như không còn nước mắt để khóc, bây giờ đành
buông xuôi theo số phận. Đã đến nước này có than khóc cũng chẳng ích gì. Từ
đây, mỗi buổi chiều khi mặt trời xế bóng, nghe chuông chùa thong thả buông từng
tiếng não nùng tim nàng như thắt lại. Nàng có cảm giác tiếng chuông sao mà kéo
dài lê thê, mệt mỏi, nghẹn ngào như là tiếng chuông cầu hồn của chính mình.
Chính vào thời khắc nửa tỉnh nửa mê ấy, đầu giờ Tý ngày hai mươi bảy tháng tư,
có tiếng gõ nhẹ vào cánh cửa sổ nhà giam. Nàng tỉnh lại. Một bóng người lại gần
cửa sổ thì thầm :
-
Hoàng Lan, nàng phải đi khỏi đây ngay. Trường Lạc hoàng hậu đã có khẩu dụ cho
bộ Hình…
Nàng
tái mặt, rùng mình :
-
Người là ai, sao lại biết tường tận việc trong cung mà nửa đêm lẻn vào đây ?
-
Nàng không nhận ra ư ? Tôi là người làng Diềm…
-
Thế ra là chàng …- Hoàng Lan nấc nghẹn – Phải đề phòng bọn lính cấm vệ, ban
đêm chúng thường lảng vảng ở đây. Vì sao
chàng lại vào lính mã phu?
-
Chuyện dài lắm. – Người lính chợt nói nhanh – Bây giờ nàng phải thoát khỏi đây
đã. Nội nhật ba ngày nữa người ta sẽ tìm cách bức hại.
-
Em biết là trước sau cũng chết, – Hoàng Lan thì thầm – nhưng làm sao chàng biết
dược việc trong cung mà đến với em?
-
Tôi có một người quen làm thuộc viên trong dinh Điện tiền Nguyễn Đức Trung là
cha đẻ của Trường Lạc hoàng hậu. Anh ta dặn tôi phải giữ kín việc này, nếu lộ
chuyện là bị chém đầu ba họ.
Hoàng
Lan ngẫm nghĩ rất lâu rồi mới hỏi Phan Tuyển :
-
Chàng bảo đi bằng cách nào ra khỏi được hoàng thành ?
Người
lính mã phu nói ngay :
-
Thôi thì đành tính nước liều. Tôi đăng lính chăn ngựa cũng chính là vì thương
nhớ nàng. Ở kinh thành đã ba năm, tôi có một vài chỗ quen biết, nếu nàng tin
thì ta phải đi trong đêm nay. Cầu trời, nếu thoát được, ta sẽ lánh lên vùng
Lạng Bắc rồi tính kế lâu dài.
Hoàng
Lan nghe những lời thương cảm ấy chợt thấy lòng tê tái. Nàng thoáng nghĩ, đằng
nào cũng chết, thôi cứ liều, may ra còn được nhìn thấy mẹ cha.
Người
lính nhanh chóng mở ổ khóa đồng nặng gần một cân bằng chiếc chìa tự tạo rồi đưa
cho Hoàng Lan bộ quần áo nâu sồng của nhà chùa. Hai người nương bóng đêm dò dẫm
bước đi. Hoàng Lan bị giam trong biệt cung lâu ngày, chân xuống máu nên đi khá
chậm. Phan Tuyển rất sốt ruột. Chàng nghĩ thầm, cuối canh tư mà chưa ra khỏi
cấm thành, chắc chắn sẽ bị quân Thiết Đột bắt lại ngay. Từ sau vụ Nghi Dân tiếm
ngôi, việc canh phòng rất ngặt. Người qua cửa không có tín bài, dù là quan nhất
phẩm cũng không được nhập Tử cấm thành huống hồ một gã tốt đen như chàng.
Hai
người đã đến cửa Ngọc Thành, men theo bờ lũy trường đua ngựa rồi ẩn mình vào
vườn sấu. Tiếng trống cầm canh rời rạc, uể oải. Ra khỏi cửa Thiên Hưng, Phan
Tuyển định rẽ vào vườn Thạch Lựu để tìm cách leo qua tường thành thì bất ngờ
chạm lính Vũ Quân đi tuần. Chàng chăn ngựa thấy gấp lắm rồi liền xốc Hoàng Lan
lên lưng cõng nàng chạy sát chân thành. Chỉ cần chạy được chừng ba chục bước
chân là gặp cống ngầm từ thành nội chảy ra hào nước, chui được xuống cống là
thoát, nhưng số phận không chiều người cung nữ. Phan Tuyển bị mũi tên trúng cổ.
Biết mình sẽ chết nhưng sợ người con gái bị ngã đau,chàng cố lấy hết sức bình
sinh ngồi xuống từ từ. Khi Hoàng Lan buông tay khỏi cổ Phan Tuyển thì chàng ngã
vật xuống ngáp hai cái rồi tắt thở.
Hoàng
Lan lại bị giam vào ngục tối. Vệ Cẩm y tra hỏi , lấy khẩu cung xong chuyển nàng
sang cho bộ Hình định tội. Bộ Hình xét án rất nhanh, khép nàng vào tội “cướp
ngục đào tẩu”, tạm giam vào đại lao, chờ nhà vua về duyệt án nhưng Trường Lạc
hoàng hậu không chuẩn y. Bất chấp lời can gián của các đài quan, hoàng hậu
xuống lệnh : “ Cung nữ Hoàng Lan trước đã phạm tội làm bùa phép mê hoặc hoàng
thượng, nay lại tư thông với tên lính chăn ngựa phá ngục trốn khỏi hoàng cung.
Tội trạng đã rõ. Nay chiếu theo luật triều đình, xử tư mã phanh thây để làm
gương răn đe khác”.
Ngày
mồng tám tháng một, pháp ty cho dẫn tội nhân ra ngã tư Đông Thị. Bốn con ngựa
chiến được giám mã đưa vào pháp trường. Sau ba hồi trống thì đến một hồi
chiêng, bọn đao phủ quấn vải xô gai vào người phạm nhân sau đó buộc tay chân
vào đai kéo của mỗi con ngựa. Quan giám trảm ngồi trên kỳ đài che hai chiếc
lọng xanh, chờ đến chính Ngọ sẽ xuống lệnh hành quyết…
*
*
*
Xa
giá Thánh Tông sắp đến Kinh thành. Nhà vua thấy trong người không yên nên xuống
xe từ trạm Vân Yên cùng đoàn tùy tùng cho ngựa phi nước đại vào cửa Đoan Môn.
Mặt
trời đứng bóng. Vừa lúc con ngựa đầu tiên của đoàn kỵ sĩ tiến nửa thân vào cái
cột bằng đá gần sát điện Diên Ninh thì viên giám trảm rút chiếc thẻ lệnh ném
xuống đất. Bốn con ngựa bi quất mạnh, tung vó chồm lên…
Con chiến mã thứ ba là của
Thánh Tông. Nhà vua thúc cựa giày vào sườn con ngựa hồng làm nó vốn đã mệt vì
chạy đường xa, bực dọc vọt thẳng lên kỳ đài. Nhà vua kịp ghì cương, hàm thiếc
xiết vào mõm ngựa bật máu tươi. Nhìn toàn cảnh pháp trường, Thánh Tông rùng
mình. Ngài cay đắng vì mình đã về quá chậm, dù chỉ là một phần tư khắc. Thấy
viên thị lang Hình Bộ quỳ sụp trước ngựa, nhà vua điên tiết đá cho ông ta một
phát rồi quát :
- Kẻ nào làm văn án ?
Viên
hình quan mặt xám ngoét, run rẩy bẩm :
- Muôn tâu bệ hạ, văn án là
của bộ Hình nhưng khép vào hình phạt này là do lệnh chỉ của hoàng hậu.
Thánh Tông tự nhiên thấy
người ớn lạnh, trước mắt tối sầm, để rơi mất roi ngựa.
*
*
*
Ngày hai mươi lăm tháng một,
sau khi làm lễ dâng tù ở nhà thái miếu, Thánh Tông trai giới ba ngày, tắm gội,
xông hương rồi lên chùa Sùng Nghiêm lễ Phật. Hôm sau, nhà vua truyền chỉ lập
đàn cầu siêu, giải oan cho cung nhân Hoàng Lan. Ngày hai mươi tám, hoàng thượng
xuống chiếu truy phong Hoàng Lan làm Nguyên Phi và cho người đi đón vị hoàng tử
sơ sinh bị Trường Lạc hoàng hậu manh tâm bắt giấu tận bên làng cá Nghi Tàm.
Chiều hôm ấy, Trường Lạc
hoàng hậu bị giam vào lãnh cung. Điện tiền Nguyễn Đức Trung và Tư khấu nguyễn
Yên bị hạ ngục.
Chí Linh, tháng 12/1991
ĐVS
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét