Nhãn

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

Tình người soi dặm đường, bi kịch của một nhà thơ không chịu …đánh mất mình.

Tình người soi dặm đường, bi kịch của một nhà thơ không chịu …đánh mất mình.


Đặng Văn Sinh


Cuộc hội ngộ gia đình năm 2008


Vào nửa cuối những năm 50 của thế kỷ XX, nhà thơ Hoàng Yến sở hữu một lý lịch mà những văn nghệ sĩ cùng thời với ông, cho dù nằm mơ giữa ban ngày cũng không có được. Đó là một hồ sơ cá nhân, xét từ góc nhìn của các nhà tổ chức mẫn cán, nó được đảm bảo bằng vàng ròng bởi những tên tuổi lớn, từng góp phần tạo dựng nền móng cho chế độ mới sau năn 1945, chẳng những giác ngộ, dẫn dắt Hoàng Yến vào con đường Cách mạng mà còn giới thiệu, kết nạp ông vào Đảng, cùng hoạt động với ông trong tổ chức. Những nhân vật lẫy lừng ấy có thể kể đến Huỳnh Ngọc Huệ (em mẹ nhà thơ), Nguyễn Duy Trinh, Nguyễn Chí Thanh, Tố Hữu, Võ Quảng vv… Vì thế, Hoàng Yến tham gia hoạt động phong trào Thanh niên dân chủ từ năm 1938 lúc mới 15 tuổi. Ông cùng người em ruôt, Lê Xuân Mai từng làm giao liên cho Huỳnh Ngọc Huệ, Nguyễn Duy Trinh hồi hai ông vượt ngục Đắc Lây về. Rồi hai anh em cùng tham gia vệ quốc, cùng thoát ly ra khu IV từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Lê Xuân Mai theo đoàn văn công, từng làm lãnh đạo đoàn, Lê Hoàng Yến từng làm thư ký toà soạn báo Cứu quốc khu IV, thư ký riêng cho đồng chí Nguyễn Chí Thanh, rồi tham gia sư đoàn 304 suốt từ chiến dịch Hoà Bình, đến chiến dịch Điện Biên Phủ…

Cũng như những thanh niên học sinh yêu nước thời kỳ Tiền khởi nghĩa, Hoàng Yến được học hành khá bài bản, có bằng Diplôme là thứ rất cần thiết cho sự nghiệp canh tân đất nước trong tương lai. Hoàng Yến học giỏi, có ý chí vươn lên, giầu bản lĩnh và luôn có chủ kiến trong cách nhìn cuộc sống. Chính vì vậy, ta không lạ gì khi mà nhà thơ luôn dị ứng với hội chứng bầy đàn vốn được hình thành từ thứ học thuyết giáo điều chỉ đề cao vai trò tập thể trừu tượng mà hạ thấp những nỗ lực của những sáng tạo cá nhân.

Hoàng Yến nhận thức Cách mạng như một sự giải phóng thân phận dân tộc nô lệ cùng với việc giải phóng mỗi cá nhân con người bởi những ràng buộc về tư tưởng cổ hủ, lạc hậu trong đó có tình yêu nam nữ. Và, kết quả của công cuộc “giải phóng” có một không hai ấy là mối tình đầy phong vị lãng mạn của chàng trai hào hoa xứ Quảng với nàng công nữ thuộc hàng danh gia vọng tộc triều đình nhà Nguyễn. Thật là “thiên tải nhất thì”, một mối lương duyên không thể nào đẹp hơn nếu ta nhìn dưới con mắt của người dân bình thường khi mà não trạng chưa bị ám ảnh bởi chủ thuyết đấu tranh giai cấp. Không còn nghi ngờ gì nữa. Cặp đôi Hoàng Yến – Lan Châu là thiên tình sử đầy cảm hứng. Nói cách khác, từ việc cưới một Công Tằng Tôn Nữ, Hoàng Yến đã đem ngọn lửa Cách mạng và lòng yêu nước thổi vào gia đình nhà vợ, đến nỗi, không lâu sau, cuối năm 1946, cả chín chị em của nữ sĩ Lan Châu đều dắt díu nhau rời khỏi kinh thành Huế. Đây là cuộc ra đi không tiền khoáng hậu phảng phất niềm bi tráng của Chinh phụ ngâm để rồi cuối cùng trở thành bi kịch…

Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Hậu Chuyện kể năm 2000 (tiếp theo)



HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000
(Thời biến đổi gien)
Kỳ 2


Bùi Ngọc Tấn
                                                           


Tôi đã quên tên tôi dưới mặt trời
Quên tuổi tôi cắm sâu lưỡi dao năm tháng
Thời gian băng hà sọ não tôi
                                                  — Bùi Ngọc Tấn


T
ôi ra tù — từ trại Vĩnh Quang — tháng 4 năm 1973. Một năm cuộc sống khó khăn không hình dung nổi, và càng không hình dung nổi trong những năm tiếp theo.
Khi tôi kêu lên:“Các ông ấy bần cùng hóa nhân dân ghê quá”, Nguyên Bình nghiêm mặt bảo tôi:“Cuộc sống này gần với cuộc sống loài vật. Đâu phải cuộc sống con người”.
Bình nói đúng. Cuộc sống này là một sự đầy đọa.
Hãy nghe một câu trong tham luận của một thuyền trưởng Liên Hợp đánh cá Hạ Long tại đại hội công nhân viên chức: “Tầu cá về, người xuống như dòi”.
Câu đó nói lên tất cả! Hơn thế. Biết bao nhiêu người thèm được như chúng tôi — nhân viên một xí nghiệp thực phẩm — ao ước là dòi!
 Đã ba mươi năm chiến tranh.
Từ lúc tôi còn là một thiếu niên. Đến khi ấy đã là quá nửa đời. Con người chỉ là công cụ phục vụ cho cuộc chiến. Và phải chiến thắng. Không thể thất bại. Dù phải đốt cháy dẫy Trường Sơn. Dù phải đánh đến cái lai quần. Bởi thất bại hay chỉ không chiến thắng thôi, cũng có nghĩa là đổ vỡ tất cả.

Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2015

Ký ức làng Cùa (tiếp theo)




    Ký ức làng Cùa
   Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh


            PHẦN THỨ HAI

Chương mười                                  

                                        5

Bà Cả Huê được ra khỏi buồng giam bị dân quân áp giải về nhà trình báo tài sản trước khi đem ra xét xử. Những người thực hiện cuộc khảo của này là Xã đội Mực, Lê thị Chĩnh Con và Ứng Thị Sót. Bà Chánh mặc bộ váy áo mốc thếch chẳng  khác gì con mẹ ăn mày, quỳ ở chân đống rơm có hai dân quân kèm hai bên. Cố nông Sót nâng cằm bà ta lên bảo :
-Thị Huê nghe đây! Vàng dấu ở đâu phải thành khẩn khai ra, toà sẽ khoan hồng.
Vợ Chánh Đàm lắc đầu:
- Thưa bà cốt cán, nhà này có bao nhiêu tài sản Đội Cải cách đã tịch thu hết, chúng tôi bây giờ cái bát mẻ cũng không có mà ăn lấy đâu ra vàng.
- Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay! - Sót túm tóc bà Cả Huê giật mạnh mấy cái rồi lèm bèm chửi hệt như mụ hàng thịt. - Quân mặt sứa gan lim , đồ l... sành ghe đá hút máu mủ của bần cố nông giàu nứt đố đổ vách mà bảo không có vàng, nói chó nó cũng không nghe được .
Xã đội Mực hùng hổ chạy lại giáng liền hai bạt tai làm người đàn bà ngót sáu chục tuổi loạng choạng, đổ vật vào đống rơm. Hắn kéo bà ta dậy bắt quỳ như cũ, giọng rít lên :
- Biết điều thì khai ra vàng ở đâu, nếu không đừng trách.
- Đã bảo là không có vàng. Các ông các bà đánh chết cũng chẳng đào đâu ra.
- A! Con khọm này lỳ gớm nhỉ. Cô Sót đâu, lấy chày giò ra đây.
- Hình như mấy chiếc chày đã được chuẩn bị từ trước. Lê Thị Chĩnh và Ứng Thị Sót, mỗi cô một bên, tốc váy bà Chánh lên ngang đùi thi nhau dần vào hai đầu gối. Bà ta đau quá kêu ồ ồ như bò rống, được một lúc thì đái ra váy khai nồng nặc làm hai cốt cán phải tạm thời bỏ cuộc.

Hậu Chuyện kể năm 2000



HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000
(Thời biến đổi gien)

Kỳ 1


Bùi Ngọc Tấn


 




 


              Bùi Ngọc Tấn & Hậu Chuyện kể năm 2000

UYÊN THAO

Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông gia nhập làng báo sau khi theo đội Thanh Niên Xung Phong vào tiếp quản Hà Nội tháng 10-1954 với vai trò phóng viên cho tờ Tiền Phong. Thời gian này, ông ký bút danh Tân Sắc và bắt đầu sáng tác văn nghệ, dù có lệnh cấm nhà báo viết văn nên phải viết chui tức ký bút danh khác. Cái lệnh kỳ quái này không cản được Bùi Ngọc Tấn sáng tác và ông đã gửi một truyện ngắn — Chị Trúc — dự thi giải văn nghệ của báo Văn Nghệ. Truyện của ông được Tô Hoài khen hay nhưng không được in và tất nhiên không được chấm giải, vì bị cho là nói đến những mất mát của chiến tranh “hơi quá liều lượng.” Tất nhiên sau đó Bùi Ngọc Tấn phải điều chỉnh cách viết để có thể tiếp tục góp mặt trong sinh hoạt văn nghệ nhưng đã cố giữ khoảng cách với “hàng ngũ nhà văn cung đình.”

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Ký ức làng Cùa (tiếp theo kỳ trước)





Ký ức làng Cùa
Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh


                  PHẦN THỨ HAI

Chương mười                                  

2


Toán dân quân hơn chục người dưới sự chỉ huy của Xã đội trưởng Bùi Quốc Tầm mang theo bảy khẩu súng trường, năm quả lựu đạn mỏ vịt và một cuộn thừng trâu rời làng Cùa lúc năm giờ chiều. Bọn này phần lớn là dân lực điền, chân bàn cuốc, gai đâm không thủng, chạy bộ chục cây số chẳng bõ bèn gì. Bùi Quốc Tầm con ông Bùi Khắc Nhũ, tiên chỉ làng Đậu Khê. Ông Nhũ làm nghề thiến lợn, quanh năm xách thòng lọng khắp mấy tổng Kim Đôi, Ngân Đôi, Cao Xá, đến ngõ nào cũng cất giọng lanh lảnh bằng một ngữ điệu rất truyền cảm: Thiến lợn ơ! Tài thiến lợn của Bùi Khắc Nhũ vùng Ba Tổng không ai bì kịp.Vừa vào đến cửa chuồng, con lợn chưa kịp nhận ra người lạ thì một cẳng đã bị thít thòng lọng lôi ra. Ông thợ chụm ngón tay xoa nhẹ dưới háng, gãi gãi mấy cái như một trò đùa rồi bất ngờ đưa xoẹt một đường dao làm chú ta giãy nảy lên. Chỉ một loáng, hai hạt cà đã được móc ra nằm gọn trong chiếc bát da lươn . Lấy vợ từ lúc mười sáu tuổi, đến năm ba mươi sáu vợ Bùi Khắc Nhũ đẻ liền bảy cô con gái. Trong nhà toàn vịt giời, lúc nào cũng cãi nhau chí choé, mất thớ với cánh đàn ông trong giáp, họ Bùi liền nghĩ đến chuyện đi gửi thiên hạ. Vốn sẵn máu phong tình, bác thiến lợn không khó khăn lắm trong việc thả lời ong bướm tán tỉnh các cô quá lứa nhỡ thì hoặc đàn bà goá nạ dòng. Một trong những đối tượng say Bùi Khắc Nhũ như điếu đổ là bà phó Nhu chồng chết từ ba năm trước có cô con gái câm, đã mười tám trăng tròn mà không có anh trai làng nào đánh tiếng. Ông Nhũ qua lại làng Báng chừng già nửa năm thì bà phó Nhu có mang, ít lâu sau sinh được thằng con trai mặt giống bố như tạc nhưng cặp chân lại vòng kiềng. Bà Nhũ mừng lắm dắt bảy cô con gái mang một làn trứng và cặp gà mái ghẹ sang thăm cậu quý tử và nhận bà Nhu làm chị em. Thằng cu Tầm được hơn hai tuổi thì cô Câm lại có mang. Dân làng Báng tức lắm, họ cử đám tuần đinh rình ở đống Chùa lừa bắt Bùi Khắc Nhũ tống vào bao tải quẳng xuống ngòi. Số bác thiến lợn còn may, bao không buộc túm đầu, ông ta giãy giụa một lúc, uống vài ngụm nước thì tuồn  được ra. Sau này Bùi Quốc Tầm lớn lên hay về Bối Khê thăm bố, còn ông Nhũ, cho đến cuối đời tuyệt nhiên không dám trở lại kẻ Báng.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

Ký ức làng Cùa (tiếp theo)



 
Ký ức làng Cùa
Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh


                  PHẦN THỨ HAI

Chương mười
                                               

         1

Tháng bảy năm năm tư, làng Cùa bắt đầu Cải cách ruộng đất. Ban chỉ đạo có ba thành viên do một người dong dỏng cao, tóc xoăn, khoảng hăm bảy hăm tám tên là Lạc làm Đội trưởng. Đội Lạc xuất thân thành phần cố nông. Bố mẹ quanh năm làm mướn cho lý Đăng. Một năm nước lụt vỡ đê, mất mùa, bà mẹ ra sông Vệ mò tôm chết đuối mất xác. Tháng tư năm Dậu, sau trận đói khủng khiếp, đồng điền bỗng như có phép lạ, lúa tốt bời bời, khắp xóm dưới làng trên chỗ nào cũng thấy mùi no ấm. Dân kẻ La trông ngóng từng ngày, nóng lòng nóng ruột chờ lúa đỏ đuôi là gặt thử làm một bữa cơm mới cho bõ những ngày ăn củ chuối hoặc rễ rau rền lẫn với cháo cám. Lạc còn nhớ, nửa đêm hôm ấy ông Lục ra thửa ruộng lĩnh canh cắt trộm mấy chục lượm mang về nhà vò rồi cho vào cối giã. Thóc tươi, nhiều hạt còn xanh lè nhưng cuối cùng cũng được nấu thành cơm. Đó là nồi cơm trắng toả mùi thơm đặc biệt hấp dẫn làm cả hai bố con đều nuốt nước miếng ừng ực. Cơm vừa bắc ra bất ngờ Lạc bị một cơn đau bụng dữ dội. Người anh ta toát mồ hôi hột, hai thái dương nhức như bị thít bằng một thứ đai sắt cứ mỗi lúc lại xiết chặt thêm. Ông Lục phải giã ngải cứu vắt nước cho uống nửa giờ sau mới đỡ. Khi Lạc ngủ, ông bố đói quá mở vung nồi xúc cơm ăn trước. Thức ăn chỉ có nắm cua với mấy ngọn rau lang luộc nhưng vì đã bốn ngày chưa có gì vào bụng nên ông đánh liền một lúc sáu bảy bát. Ngon quá. Ông định làm thêm bát nữa cho đỡ thèm rồi đi nấu cháo cho Lạc, bỗng nhiên cảm thấy trong bụng như có cái gì vỡ ra kêu đến bục một tiếng. Ông rùng mình, toàn thân ớn lạnh rồi nằm vật xuống không biết gì nữa. Cơn đau làm Lạc kiệt sức, ngủ mê mệt gần tối mới tỉnh dậy thì thấy ông bố nằm co quắp dưới nền nhà, người đã lạnh cứng. Anh ta sợ quá chạy ra cổng hô hoán. Cụ khoá Lềnh ở kề hàng rào sang sớm nhất, nhìn thấy bộ dạng ông hàng xóm, chép miệng bảo:
- Rõ khổ! Bác ấy ăn cơm mới no quá bục dạ dày.

Tìm hiểu về một số bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn

Tìm hiểu về một số bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn

Trần Tư Tề
(Nghiên cứu sinh Trung văn, Đại học Đông Hải, Đài Loan)

1-      Lời đầu
Thơ “Vô đề” do Lý Thương Ẩn sáng tác thường rất khó hiểu nhưng lại vô cùng hấp dẫn các thế hệ độc giả. Đối với thể loại thơ này, Lý Thương Ẩn từng giải thích: “Sở vũ hàm tình câu hữu thác” (Mưa Sở ẩn chứa cái tình đều có sự ký thác). Từ những nét lớn trên mà xét, thơ của ông nằm trong số ít, riêng biệt có sự ký thác, phần lớn đều lấy tình yêu nam nữ làm đề tài, diễn tả tình ý triền miên, hình ảnh sinh động, khiến độc giả mọi thời đại đều nhiệt tình tán thưởng.
Có thể nói, thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn thuộc dòng bác học tuyệt mỹ, phong cách riêng biệt, xứng đáng là một trường phái trong dòng thơ tình yêu cổ đại Trung Hoa.(1) Lưu Đại Kiệt cũng nhân xét: “Thơ ‘Vô đề’ của Lý Thương Ẩn thuộc thể loại trữ tình, nghệ thuật diễn đạt đặc sắc, được truyền bá rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đối với hậu nhân. Đọc những bài thơ này, chúng ta càng hiểu, Lý Thương Ẩn miêu tả tình yêu bằng thủ pháp kỳ diệu. Ông có sở trường nghiêm túc mà không khinh bạc, trong sáng mà không nông cạn, có tình cảm chân thực trong sự thể nghiệm chân thực, trữ tình mà sâu sắc, ý tứ tinh tế mà thâm viễn”.(2)
Những bài thơ này luôn diễn tả thứ tình cảm chân thành, ai oán, buồn thảm, không chỉ làm xúc động lòng người bằng thi luật tinh xảo, cảnh ngộ u sầu mà còn ở âm điệu hòa hợp, khiến người đọc “nhất xướng tam thán”. Đồng thời, cùng một lúc, lại có sự hòa điệu, khiến người đọc nhận được sự giao cảm giữa âm điệu và sắc thái. Đó chính là điều làm cho rất nhiều độc giả, qua cả ngàn năm, vui vẻ đón nhận sự kỳ diệu của nó.(3) Nói cách khác, sở dĩ, thơ Lý Thương Ẩn được nhiều người hân hoan đón nhận chính là bởi thể loại “Vô đề”.