Nhãn

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

"Thuyền nghiêng" của Dương Thị Nhụn và nhân vật điển hình...

"Thuyền nghiêng"của Dương Thị Nhụn và nhân vật điển hình

            Tham luận gửi BTC cuộc tọa đàm tiểu thuyết Thuyền nghiêng* của nữ tác giả Dương Thị Nhụn do Hội Nhà văn Hải Phòng tổ chức ngày 2 tháng 8 năm 2012

                     Đặng Văn Sinh
           Thuyền nghiêng có một nhân vật rất đáng chú ý là Hãn. Cùng với Hãn còn có Vớ. Cặp nam nữ này chỉ là công dân hạng hai của làng Đông Phong, nhưng chính họ đã góp phần không nhỏ làm nên sự thành công của tác phẩm.
            So với Vớ, Hãn là nhân vật có cá tính hơn nhiều, được tác giả xây dựng như là mẫu người có thân phận chìm nổi, nhưng bằng nghị lực của mình, vượt lên trên nỗi bất hạnh, khẳng định quyền được sống đúng với nghĩa con người của mình. Từ đứa trẻ mồ côi, sống hoang dã, thiếu giáo dục, gây bao tai tiếng ở làng Đông Phong, Hãn trở thành một phụ nữ từng trải, đầy bản lĩnh, đi vào tiểu thuyết như là nhân vật điển hình, làm người đọc không khỏi ngạc nhiên trước cách xử lý nhiều tình huống gay cấn khá chắc tay của tác giả.
Đây cũng chính là sự khác biệt căn bản đối với phần lớn tiểu thuyết xuất hiện trong những năm gần đây, bởi tác giả dám đột phá vào một địa hạt được xem như là "cấm kỵ" hay ít nhất người ta cũng lờ đi bởi những lý do được gọi là "nhạy cảm". Xét về mối tương quan nhân vật trong kết cấu tổng thể tác phẩm, người đọc có thể thấy Hãn cùng với Vớ là đối trọng với nhóm Vấn, Tấn, Húng, Thìn, Hình,... Trong số những "lão trượng" rất bảo thủ này chỉ có Hoàng Văn Tấn có cái nhìn tương đối thiện cảm với Hãn nhưng không thể bảo vệ được người phụ nữ đầy tai tiếng này bởi chính ông cũng là một phế nhân vì đầu óc từ lâu đã bị chất độc da cam gậm nhấm, ít khi làm chủ đượchành vi của mình.

Bố sẵn sàng làm quả bom chờ nổ

        Bố sẵn sàng làm quả bom chờ nổ
                        Phạm Xuân Trường


            ... “Có phải bây giờ anh mang đánh đĩ cả lòng tin”
                                    Việt Phương

            1.
            Bốn nghìn năm bao bài học nhớ đời
            Câu chuyện nỏ thần mới nguyên như cũ
Nhà thơ Phạm Xuân Trường
            Vua cả tin - dân nhầm minh chủ
            Nay răng cắn môi, đồng chí hoá kẻ thù
            Chó sói đã gửi ba chân vào hang thỏ
            Thì chuyện gì sẽ phải xảy ra
            Đồng chí ư! Tin đến ngây thơ
            Sau nụ hôn má đầy nấm độc
            Đã là rắn chẳng con nào không có nọc
            Lời nhân sâm gan ruột tẩm nhân ngôn
            Khoác áo thầy tu dao giắt sau lưng
            Ngực đồng chí ròng ròng máu rỏ
            Bốn nghìn năm rồi bốn nghìn năm nữa
            Chó sói đội lốt cừu vẫn chó sói, con ơi!
            Sông Bạch Đằng vẫn ngầu máu tươi
            Cọc Bạch Đằng vẫn còn nhọn hoắt
            Sóng gầm lên gươm khua ngựa thét
            Đến hôm nay vẫn chưa hết căm hờn
            Ải Chi Lăng và Mục Nam Quan
            Từng ngọn cỏ vẫn là chiến luỹ...

"Thân Việt Nam trước đã"

“Thân Việt Nam trước đã!”

Hạ Đình Nguyên

B
áo Hoàn Cầu Trung Quốc đe dọa Việt Nam: “Việt Nam sẽ rất đau đớn nếu thân Mỹ”. Thật ra, phải hiểu rằng đó là một thông điệp rõ ràng của chính Bắc Kinh, là một câu nói thẳng vào mặt, đầy nộ khí: Việt Nam! Theo ai? Theo Mỹ để bao vây Trung Quốc, hay theo Trung Quốc, với tư cách là thằng đàn em, để chống Mỹ?
Tấm màn màu mè đầy giả dối 16 chữ vàng và 4 tốt, Bắc Kinh đã xé toạc và quăng xuống sân khấu. Ánh sáng sự thật tràn ngập. Tuy không ngoài dự kiến, nhưng Việt Nam không tránh khỏi bối rối trước sự trắng trợn này. Lịch sử Việt Nam không hề u mê để các lãnh đạo không biết bộ mặt thật của chúng, mà ngược lại, biết sâu sắc thấu suốt bằng nhiều xương máu của bao thế hệ. Nhưng vì đâu mà tấm màn giả dối kia cứ phơ phất che mắt người dân suốt 20 năm nay? Không phải đã không có những tiếng thét lên và kêu gào của những bậc sĩ phu đích thực và kể cả của người dân ở đường phố. Nhưng tất cả đều bị ém lại, bị triệt hạ, đôi khi bị lăng nhục và miệt thị không tiếc lời bởi một số quan chức Việt Nam. Thậm chí, những chiến sĩ, những người con của đất nước, đã chiến đấu và hy sinh cho Hoàng Sa, Trường Sa, biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam đã không được làm lễ tưởng niệm công khai, cả các bia đá cũng bị đục bỏ và lặng lẽ khiêng đi.

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Từ người hùng đến bần cùng

Từ người hùng đến bần cùng

Biểu đồ chỉ số lạm phát của Việt Nam từ năm 2005 đến nửa đầu năm 2012

Đ
ảng Cộng sản vẫn kiên định với lập trường của mình và nền kinh tế thì dậm chân tại chỗ. Giữa dòng xe cộ nhộn nhịp và buôn bán ồn ào của thủ đô Việt Nam, vô số các băng rôn cổ vũ người dân "Mừng Đảng, Mừng Xuân". Nhưng hiện nay, người Hà Nội chẳng có gì để mừng. Cách đây chưa lâu lắm, Việt nam là một hình ảnh đẹp cho các nước đang phát triển. Bây giờ thì lại mang bộ dạng của một đất nước tụt hậu tồi tệ.
Lạm phát là mối quan tâm hàng đầu, năm ngoái lại vượt mức 20%, lần thứ hai trong vòng ba năm qua (xem biểu đồ). Việt Nam hiện có chỉ số lạm phát cao nhất châu Á, một sự thật mà cơ quan kiểm duyệt của chính phủ đã nghiêm cấm các nhà báo trong nước loan tin. Hàng ngàn doanh nghiệp phá sản, giá bất động sản tụt dốc. Ngân hàng và các doanh nghiệp quốc doanh (DNQD) đang phải đối mặt với nợ xấu.

Trung Quốc trong thơ Tố Hữu

Trung Quốc trong thơ Tố Hữu (Phần I)

          Lê Mai


N
gày ấy, các nước “XHCN anh em” đi vào thơ Tố Hữu khá là đậm nét và đầy thi vị. Trước tiên, có lẽ chúng ta phải nói đến Ba Lan. Mấy câu thơ của Tố Hữu trong Em ơi…Ba Lan thật khó mà hay hơn được, dù người ta có “chê” thơ ông ta đi chăng nữa, cũng phải công nhận, nó quá hay:
Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
Anh đi, nghe tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn
Nếu tôi không nhầm, bài thơ này Tố Hữu viết trong chuyến đi dự Đại hội đảng công nhân thống nhất Ba Lan, ông ta là Phó trưởng đoàn, còn Trưởng đoàn là Võ Nguyên Giáp. Cả hai ông lúc bấy giờ đều rất nổi tiếng. Tên tuổi tướng Giáp, sau trận Điện Biên, vang dội trên toàn thế giới và lần ấy, ông được hoan hô nhiệt liệt tại Ba Lan. Nghe Tố Hữu kể lại, trong chuyến đi ấy, hầu như việc gì ông Giáp cũng bàn bạc, trao đổi với ông ta.
Để tránh lạc đề, chúng ta quay lại với Trung Quốc. Người láng giềng khổng lồ phương Bắc – tất nhiên, được Tố Hữu ca ngợi hết lời. Đây, hai câu thơ cực kỳ quen thuộc về mối quan hệ Việt – Trung:
Bên ni biên giới là mình
Bên kia biên giới cũng tình quê hương…
Thật là thắm thiết, như anh em một nhà, bên ni hay bên kia thì cũng là quê hương mình cả! Vậy sao? Chúng ta đừng quên hai câu thơ trước đó:
Đồng Đăng đây, nọ Bằng Tường
Song song đôi mặt như gương với hình

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Chủ tịch nước

Chủ tịch nước

Lê Mai

QUỐC HỘI nước VNDCCH, vào ngày 9.11.1946, đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên mà sự tiến bộ, mẫu mực, dân chủ của nó cho đến nay – không những làm chúng ta mà còn làm cả thế giới thán phục. Trong bản Hiến pháp dân chủ ấy, ngoài việc thiết kế một thiết chế chính trị mẫu mực, đã quy định quyền hạn của Chủ tịch nước rất rõ ràng, đó là người thay mặt cho nước, giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái trong lục quân, hải quân, không quân, ký sắc lệnh bổ nhiệm Thủ tướng, ban bố các đạo luật, đặc xá, ký hiệp ước với các nước, tuyên chiến hay đình chiến…
Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước VNDCCH.
Dĩ nhiên, dấu ấn của Hồ Chí Minh hết sức đậm nét trong bản Hiến pháp đầu tiên. Sự thông minh xuất chúng, hiểu nhiều, biết rộng của Hồ Chí Minh đã làm Võ Nguyên Giáp – một người tài ba, một cộng sự rất gần gũi Hồ Chí Minh kinh ngạc. Ông kể, gần như làm bất cứ việc gì, ông đều thấy Hồ Chí Minh đã tiên liệu, suy nghĩ vấn đề đó từ rất lâu rồi. Bản Tuyên ngôn độc lập, bản Hiến pháp đầu tiên của nước VNDCCH chỉ là vài dẫn chứng sinh động.

Thứ Năm, 26 tháng 7, 2012

Ký ức làng Cùa (tiếp theo kỳ trước)



                                     Ký ức làng Cùa

                             Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh

                                           Chương năm


                                                            1

L
àng Cùa tạm thời trở lại yên tĩnh. Khúc Kiệt bắt đầu thực hiện một số cải cách mà việc đầu tiên là trưng thu con ngựa bạch của nhà chánh Đàm. Hôm nào cũng vậy, ông ta dậy từ lúc còn mờ đất, nhảy phốc lên con tuấn mã chạy nước kiệu ra bến sông Lăng. Đường làng lúc này còn vắng, thỉnh thoảng mới gặp một bà nhặt phân chó. Những bà này nghe tiếng vó ngựa từ xa đã lẩn vội vào ngõ ngách hoặc bụi rậm. Cách đây mấy hôm, cô Mận thọt con ông trương Thình đã bị mấy hèo mây vào lưng vì tội dám để gánh phân thối hoắc giữa đường chắn lối đi của thủ lĩnh áo Đen. Mấy hôm sau, Khúc Kiệt mời các vị chức sắc trong làng ra đình hiến ruộng cho Cách mạng. Chánh tổng Cao Lộng dù chẳng muốn tí nào cũng phải rứt ruột nộp ra hai mẫu. Lý Quỳnh ngậm đắng nuốt cay mất toi một mẫu tám sào mà không kêu vào đâu được. Người chống đối gay gắt nhất là bà cả Huê. Bà ta lấy thế mẹ goá coi côi chẳng những không chịu nộp ruộng mà còn dứt khoát đòi con ngựa. Khúc Kiệt vốn không phải là người có tính nhẫn nại, nghe và chị dâu gọi mình là quân ăn cướp thì bật dậy như chiếc lò xo bị nén quá lâu, hàm răng ám khói thuốc lào nhe ra, giọng gầm gừ:
- Yêu cầu bà Huê không được xúc phạm đến Cách mạng, nếu còn mồm loa mép giải, chúng tôi buộc phải có biện pháp cứng rắn.
- Cách mạng gì các người. - Bà Huê đỏ mặt tía tai - Một lũ thổ phỉ thì có.
- Này ! Chị đừng có quá đáng. Tội của nhà chị tử hình còn là nhẹ.
- Có giỏi thì cứ bắn đi. Con này không sợ đâu nhé !
Rõ ràng là Khúc Kiệt đang bị khiêu khích. Mặt ông ta tím lại, tay run run sờ vào bao súng lục. Phía bên này chánh tổng Cao Lộng che miệng giấu nụ cười khó hiểu. Giữa lúc Khúc Kiệt đang nghĩ cách trừng phạt bà vợ chánh Đàm để răn đe những kẻ có máu mặt ở làng Cùa đang rắp tâm chống đối thì người thư ký từ ngoài vào đưa một mảnh giấy. Ông ta đọc lướt qua rồi chau mày, ngồi thừ ra một lúc dường như chẳng để ý gì đến các khổ chủ bị triệu đến hiến gia sản. Bọn Cao Lộng thấy thái độ của thủ lĩnh áo Đen như vậy, ngầm đưa mắt cho nhau lặng lẽ rút lui. Các đội viên gác ngoài cửa định giữ lại thì Khúc Kiệt phẩy tay ra hiệu để cho họ đi sau đó chuyển mảnh giấy cho Lại Xuân Kiên vừa đi tuần tra về. Viên đội phó xoay dọc xoay ngang tờ giấy mãi không đánh vần nổi nhưng con chữ nghệch ngoạc bằng mực tím đành trả lại đội trưởng.