Nhãn

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2014

VỀ BÀI : Bốn "chuyện lạ" ở đât nước Nhật Bản

VỀ BÀI : Bốn "chuyện lạ" ở đât nước Nhật Bản

Trịnh Kim Thuấn

Đọc bài Bốn “chuyện lạ” ở đất nước Nhật Bản, trong đầu nảy ra những ý nghĩ so sánh 4 chuyện lạ ở Nhật Bản với một vài chuyện ở Việt Nam, nhưng Việt Nam ta không xem đó là chuyện lạ mà là chuyện bình thường, rất bình thường .
1./ Trung thực
Ở Nhật, bạn khó có cơ hội bắt taxi để đi một cuốc đường dài. Vì sao? Các bác tài sẽ tự chở bạn thẳng đến nhà ga tàu điện ngầm, kèm lời hướng dẫn “Hãy đi tàu điện ngầm cho rẻ”.
Sự trung thực của người Nhật, in đậm nét ở những "mini shop không người bán” tại Osaka. Nhiều vùng ở Nhật không có nông dân. Ban ngày họ vẫn đến công sở, ngoài giờ làm họ trồng trọt thêm. Sau khi thu hoạch, họ đóng gói sản phẩm, dán giá và để thùng tiền bên cạnh. Người mua cứ theo giá niêm yết mà tự bỏ tiền vào thùng. Cuối ngày, trên đường đi làm về, họ ghé đem thùng tiền về nhà. Nhẹ nhàng và đơn giản. Các con đường mua sắm, các đại siêu thị ở Hokkaido, Sapporo hay Osaka... cũng không nơi nào bạn phải gửi giỏ/túi xách.

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Sẽ bảo tồn trọn vẹn cầu Long Biên bằng tư duy tiến sĩ!

Sẽ bảo tồn trọn vẹn cầu Long Biên bằng tư duy tiến sĩ!
Tiến sỹ Trần Đình Bá

Hội Kinh tế & Vận tải đường sắt Việt Nam - Hội Kiến trúc sư Việt Nam

Sau đề xuất phá cầu Chương Dương gây sốc tới mức nguyên Phó Thủ Tướng Đồng Sĩ Nguyên phải lên tiếng ngăn chặn thì nay các Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải lại đưa ra 3 phương án tháo dỡ cầu Long Biên. Giữa lúc giao thông nối hai bờ sông Hồng còn nan giải thì ý tưởng xóa sổ cầu Long Biên đưa ra lúc này thật lạc lõng vô cảm cần được xem xét cân nhắc một cách cẩn trọng.
Có một cây cầu đặc biệt như thế!
Cầu Long Biên bắc qua con sông rộng và hung dữ, đi qua ba thế kỷ đầy biến động với những cuộc đụng đầu lịch sử mang tầm thời đại. Việt Nam đang tự hào đã sở hữu một cây cầu đặc biệt nhất thế giới về giá trị vật thể, phi vật thể, và cả công năng sử dụng.

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Kẻ bắn vào nhân dân

Kẻ bắn vào nhân dân

Trần Mạnh Hảo

Leo lẻo : “ Nhân Dân ta…”
Lại nhằm dân mà bắn
Máu của U-crai-na
Muôn đời truy tố hắn

Hắn – Ya-nu-ko-vich
Hậu duệ Xít-ta-lin
Coi dân là thù địch
Bắt dân làm con tin

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Từ Việt Nam đến Myanmar và độ trễ nhân quyền

Từ Việt Nam đến Myanmar và độ trễ nhân quyền

Phạm Chí Dũng gửi RFA từ Việt Nam
Lãnh đạo đối lập Myanmar, bà Aung San Suu Kyi (T) trong một cuộc họp báo chung với Tổng thống Đức Joachim Gauck tại Naypyidaw hôm 10/2/2014. AFP photo
Ngay sau khi trở thành thành viên Hội đồng nhân quyền liên hiệp quốc, giới lãnh đạo cầm quyền ở Việt Nam rất có thể đang phải chịu mối phân tâm giằng xé trong ý thích có nên thực hiện quyền con người hay không.
Ngã ba đường
Được xem là tâm điểm trong cả hai chính sách “xoay trục” của người Mỹ sang châu Á- Thái Bình Dương và của quốc gia “Mười sáu chữ vàng” đối với mục tiêu bất di bất dịch khống chế biển Đông, cánh cửa hoen gỉ của các nhà tù Việt Nam cũng đang rơi vào tâm thế vật lộn giữa đóng và mở.
Ngay trong kỳ họp kiểm điểm định kỳ phổ quát của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc về nhân quyền Việt Nam tại Geneva vào đầu tháng 2/2014, nhiều phái bộ ngoại giao các nước đã xoáy đậm vào chủ đề vẫn còn đến 150-200 tù nhân lương tâm bị giam cầm ở Việt Nam. Riêng với tính cách bộc trực không thèm che giấu của mình, người Mỹ còn thẳng thắn hơn: các tù nhân lương tâm phải được trả tự do vô điều kiện và ngay lập tức, trong đó có bốn cái tên đang làm cho chính thể Hà Nội đau đầu nhất: Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Quốc Quân.

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

răm năm ly hợp, cuốn sử biên niên về dòng họ Lê Khắc




Trăm năm ly hợp, cuốn sử biên niên về dòng họ Lê Khắc
         (Tham luận  đọc tại cuộc tọa đàm Trăm năm ly hợp - Lê Khắc gia phả chí do Câu lạc bộ văn chương Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức sáng ngày 20 tháng 2 năm 2014 tại số 9 Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội)

Đặng Văn Sinh


N
ói một cách hình ảnh, “Trăm năm ly hợp”* là cuốn biên niên sử về một dòng họ nổi tiếng ở vùng đất Cố đô được viết một cách công phu dưới dạng văn chương. Những công trình biên khảo như thế này, trong mấy chục năm qua  gần như vắng bóng trên thị trường sách. Nguyên nhân vì sao thật ra không khó trả lời. Do bị ý thức hệ chi phối, một thời kỳ khá dài chủ thuyết chính thống chỉ chấp nhận loại hình văn học viết về Tổ quốc, về dân tộc theo khuynh hướng hiện thực của hệ mỹ học Xô viết. Những gì thuộc về gia đình, dòng họ,  nếu không mang yếu tố “Con người mới Xã hội chủ nghĩa” hiển nhiên bị xếp vào phạm trù “chủ nghĩa cá nhân”. Nhà văn không  có quyền lập ngôn, trước tác một cách tùy hứng.
Vì thế, có thể xem “Trăm năm ly hợp” là trường hợp hy hữu, lần đầu tiên, một cuốn sách viết về lai lịch dòng họ xuyên suốt chiều dài lịch sử cả trăm năm với bao nhiêu “tang thương ngẫu lục” cần được nghiên cứu chẳng những dưới góc độ khoa học mà còn phải xem xét dưới dạng văn học như là một hiện tượng.
Về bố cục, “Trăm năm ly hợp” được cấu trúc với 20 chương và một vĩ thanh. Các chương, nhìn chung đều được khai triển theo trình tự thời gian tuyến tính, tuy đôi lúc có sử dụng lối cắt đoạn, hồi tưởng nhưng nói chung vẫn  là phương pháp cổ điển, chính tắc, trong đó có những chương buồn thảm làm không ít người đọc xúc động, thậm chí rơi nước mắt. Cùng với thủ pháp diễn đạt ý tưởng theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang, tiêu đề các chương cũng rất gây ấn tượng bằng một mệnh đề giầu chất thơ nhưng lại bao quát được toàn bộ  nội dung sẽ giải trình ngay sau đó: “Con đàn cháu đống tan tác ly hương” (Chương một), “Xương tàn vùi đất tổ” (Chương hai), “Oan hồn nguôi hận” (Chương ba), “Dấn thân” (Chương bốn), “Họa vô đơn chí” (Chương năm), ”Một người mẹ chưa được vinh phong” (Chương sáu), “Tích đức thanh liêm, nối dòng thuần hậu” (Chương bảy), “Từ sấm ngữ Trạng Trình tới thành ngữ Miền Bắc nhận hàng/ Miền Nam nhận họ” (Chương chín), “Thế hệ vàng trong lửa đỏ ly hợp” (Chương mười ba), “Văn Lương nhân từ noi Đức Tổ” (Chương mười bốn), “Đôi cánh thảo hiền từ bầu trời ngoại tộc” (Chương mười sáu), “Hai cô gái tộc Lê luân lạc” (Chương mười chín), “Nước về nguồn hòa hợp” (Chương hai mươi) v.v…
Đặng Văn Sinh và Trần Nhương tại cuộc tọa đàm

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Đức vua trầm tưởng


Đức vua trầm tưởng
Nguyễn Huệ Chi
Kỷ niệm 35 năm ngày 17-2-1979 tại Hà Nội













Lý Thái Tổ nhíu đôi mắt lo âu,
Nhìn dõi xuống chân mình... rõ ràng một lũ Tàu
bụng ưỡn ẹo, ngoáy mông, ca những lời nhí nhố:
 “Cha cha cha, cha cha cha, cha cha cha

VTC14_Ngăn chặn mối nguy từ bên kia biên giới

VTC14_Ngăn chặn mối nguy từ bên kia biên giới