Nhãn

Thứ Sáu, ngày 04 tháng 9 năm 2015

Ký ức làng Cù (tiếp theo)



   Ký ức làng Cùa
   Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh


            PHẦN THỨ HAI

           Chương mười một        
2

          Mặc dù đang đói nhưng làng Cùa vẫn phát động phong trào bài trừ văn hoá nô dịch, chống mê tín dị đoan. Toàn thể thanh thiếu niên, kể cả một số con cái địa chủ phú nông đều phải tham gia chiến dịch này. Lê Văn Khải được cử vào đội tiêu huỷ sách cũ, còn Lê Văn Nghiên trong đội phá đình chùa. Bộ phận của Khải do Trưởng công an Cao Khắc Thông phụ trách. Anh ta tập hợp mọi người ra đình, đọc thông tri của cấp trên sau đó hướng dẫn trình tự công việc. Trong số hơn ba chục thanh niên, có già nửa mới thoát nạn mù chữ, phần đông đang học các lớp bình dân do các ông thầy vừa biết đọc biết viết khoá trước dạy. Cao Khắc Thông cử tổ thông tin quét vôi vào tường đình, tường miếu, đầu hồi nhà rồi kẻ dòng khẩu hiệu bằng thứ chữ in hoa có chân đế cao bằng cả gang tay: Triệt để bài trừ các loại thầy bói thầy cúng và chó dại hoặc  Kiên quyết tiêu huỷ văn hoá phẩm nô dịch. Mấy ông cung văn chuyên gảy đàn cho các bà đồng bóng ở đền Sòng cứ nhấp nha nhấp nhổm như bị kiến vàng đốt đít, chỉ sợ công an đến rước đi Trại Sung.

"Khúc giao mùa" và rượu cần miền sơn cước



   “Khúc giao mùa” và rượu cần miền sơn cước
        (Vài dòng cảm nghĩ về tập thơ “Khúc giao mùa” của Nguyễn Thị Kim Thu)

           Đặng Văn Sinh

 


 Nguyễn Thị Kim Thu

Bút danh :             Nguyễn Thị Kim Thu, Kim Thu, Hải Anh
Sinh ngày  :          15/08/1951
Quê quán :       Hương Trà, Thừa Thiên – Huế.
Tốt nghiệp Đại học Lâm nghiệp, tứng là giáo viên trường TCNL Hà Tuyên, Tuyên Quang, phóng viên, BTV báo  Hà Tuyên, Tuyên  Quang, BTV tạp chí Nông thôn mới, Phụ trách Website Trung ương Hội NDVN.

Tác phẩm:                                       
·        Ngôi sao xanh nhấp nháy (truyện ngắn), đạo diễn Vũ Hồng Sơn chuyển thể thành bộ phim truyền hình cùng tên, công chiếu tháng 03/ 1997 trên kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam
·        Bông hồng không gai (tập thơ), NXB Văn học, 1997
·        Khúc giao mùa (tập thơ) NXB Hội Nhà văn, 2015



Cũng như “Bông hồng không gai”, “Khúc giao mùa”* vẫn cùng một cách cảm, cách nghĩ rất nữ tính của Nguyễn Thị Kim Thu. Có điều, khác với “Bông hồng không gai”, ở tập này, chị nhắc nhiều đến Mùa Thu với những cung bậc tình cảm, những dạng thức biểu hiện tâm trạng khá phức tạp mà nếu tìm hiểu kỹ, người đọc sẽ thấy được có sự chuyển biến về chất giữa hai thời kỳ sáng tác.

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 8 năm 2015

Ký ức làng Của (tiếp theo)




    Ký ức làng Cùa
   Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh


            PHẦN THỨ HAI

           Chương mười một        

                                          1

Lái Lự hồi bốn sáu đã là uỷ viên Mặt trận Liên Việt, những năm sau này lại ủng hộ gạo cho kháng chiến nhưng cũng không thoát khỏi tầm ngắm của Đội Cải cách xã Nhân Ái. Người ta phát động bần cố nông tìm ra vô số tội có thật và không có thật của ông ta trong quá khứ để quy kết bằng được thành phần địa chủ phản động. Nặng nhất là vụ bán gần hai chục con trâu cho đồn điền Bon Bajar sau đó đến việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân Áo đen của Khúc Kiệt. Ông cựu lái trâu ngồi trong nhà giam chín ngày thì bị mang ra xử. Với từng ấy tội danh, căn cứ vào khung hình phạt rất tuỳ hứng của Toà án Cải cách đang thi hành, dù có bổ sung tình tiết tăng nặng chăng nữa, ông cựu uỷ viên Liên Việt cũng chỉ tù chung thân là cùng. Nhưng khốn nỗi là, Uỷ ban Cải cách đã phân bổ chỉ tiêu án tử hình cho các xã. Nhân Ái gồm bốn làng bình quân mỗi làng ít nhất phải có ba. Làng Bòng mới xử bắn Phó tổng Phạm Công Cảo và Lý trưởng Trần Phê, còn một suất nữa tất nhiên phải là Lái Lự.

Nguyên khí (12)




           NGUYÊN KHÍ

   Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường



          12. QUỐC CỮU NGUYỄN PHÙ LỖ


                                    Phượng những tiếc cao diều hãy liệng
                                           Hoa thường hay héo cỏ thường tươi

                                   (Tự thán – 50 - Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi )



Lại nói về quan Nội mật viện Nguyễn Phù Lỗ.
Trước ngày vua Lê Thái Tông khởi hành đi kinh lý  miền Đông và duyệt binh ở thành Chí Linh, Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh đã nài xin nhà vua sắc phong cho ông chú họ lên tước hầu và danh xưng Quốc Cữu. Nàng giở hết ngón nghề tình ái, lại phô diễn hết vẻ đẹp đang độ xuân thì  của “gái một con trông mòn con mắt” để dẫn dụ, mơn trớn, chiếm đoạt, khiến nhà vua như  lên cung tiên.Trong vòng tay ngà ngọc của mỹ nhân, cuộc mây mưa lại  quá nồng nàn say đắm, nhưng vua Lê Nguyên Long vẫn đủ tỉnh táo, chỉ hứa với nàng sẽ xem xét.
Giám quan Đinh Phúc, vốn được vua tin cẩn, nghe vua hỏi ý, liền can rằng:
- Bẩm Hoàng thượng. Đây là việc lớn, liên quan đến nội tình triều chính. Hoàng thượng nên hỏi  ý quan Thừa chỉ Hành khiển Nguyễn Trãi, sau khi Người từ Chí Linh về. Bọn giám quan chúng thần cùng Thái phó Lê Liệt cảm thấy gần đây Nội mật viện Nguyễn Phù Lỗ có chuyện khuất tất liên quan đến Hoàng hậu và Hoàng Thái tử Bang Cơ.

Hậu Chuyện kể năm 2000



HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000
(Thời biến đổi gien)
Kỳ 5


Bùi Ngọc Tấn                                             

Tôi bắt đầu viết văn trở lại vào tháng 3 năm 1990, hai tháng sau khi mẹ tôi mất. Tôi không phải là nhà sử học ghi nhớ chính xác ngày tháng, các sự kiện trên thế giới trong mùa xuân năm ấy. Chỉ biết rằng khoảng thời gian trước và sau năm 90, những sự kiện vô cùng trọng đại đối với nhân loại đã xẩy ra.
Đầu thế kỷ 20 là những ngày rung chuyển thế giới ở nước Nga. Cuối thế kỷ 20 là sự hóa giải sự kiện rung chuyển thế giới ấy cũng ở nước Nga. Cuộc thí nghiệm tìm con đường đi của nhân loại đã có kết luận: Đây là cuộc thí nghiệm vô trách nhiệm với chi phí gần trăm triệu mạng người và đã thất bại. Một chủ nghĩa hấp dẫn bởi chất lãng mạn không tưởng, đáp ứng được ước mơ của những người bị áp bức bóc lột, nghèo đói nhưng đã bộc lộ tất cả tính chất phản khoa học tàn bạo núp dưới những mỹ từ đẹp nhất của chủ nghĩa nhân đạo và của khoa học. Tôi mong đợi từng ngày và mong đợi quá lâu rồi, sự sụp đổ của cái trật tự bóp chết con người, bóp chết tự do, sự dối trá thống trị, cái trật tự làm thành một bầu trời đá xám úp chụp lên đầu từ Việt Nam tới tận Cộng Hòa Dân Chủ Đức! Cái trật tự xã hội tôi đã sống gần trọn đời và ghê sợ nó. Cái trật tự mà một thời tôi đã từng tin tưởng và tự hào về nó, xây dựng nó, bảo vệ nó. Ngay khi đã bị chính bánh xe tàn bạo của nó nghiền nát. Tôi tự cười mỉa khi nghĩ đến dạo mới bị tù, biết một người tù chuẩn bị trốn trại, đã báo cáo ban giám thị bởi không thể để lọt một tên tội phạm ra ngoài xã hội được! Và khi đã lên Vĩnh Quang, sau 4 năm tù mõm ra rồi, nhận suất cơm khoai dầm nát và hai muôi nước canh cá khô mục, tanh và khắm đến lộn mửa, tôi vẫn ngạc nhiên tự hỏi: “Nhà tù mình cũng cho tù ăn cá mục?”

Thứ Ba, ngày 25 tháng 8 năm 2015

Nguyên khí (11)



  NGUYÊN KHÍ

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

                    
     11. TƯỢNG NHÂN BÙI THỊ HÝ


                          Giang sơn như tạc anh hùng thệ
                          Thiên địa vô tình sự biến đa

                         ( Nước non như vẽ người đâu tá
                          Trời đất vô tình việc rối bong)

           ( Quá Thần Phù hải khẩu – Ức Trai thi tập - Nguyễn Trãi )

“ Hai người này sẽ làm rạng danh vùng đất Chu Trang, Nam Sách. Nhưng phải sáu trăm năm nữa, người đời mới biết đến họ…”
Lời tiên  đoán của Ức Trai tiên sinh vào tháng bẩy năm Nhâm  tuất,1442 ấy, đúng 567 năm sau, vào ngày 26 tháng 10 năm 2009, tức ngày 9 tháng 9 Kỷ sửu, hậu duệ của tượng nhân Bùi Thị Hý mới tìm thấy phần mộ và lai lịch của bà.
Câu chuyên bắt đầu từ lá thư của ngài Makoto Anabuki, Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản ở  Hà Nội gửi cho ông Ngô Duy Đông, lãnh đạo tỉnh Hải Hưng.
Năm 1980, trong một chuyến sang thủ đô Istambul, Thổ Nhĩ Kỳ,  ông Makoto Anabuki đã tới thăm bảo tàng nổi tiếng Topkapi Saray. Tại đây ông đã nhìn thấy chiếc bình hoa lam quí giá hình củ tỏi, cao 54 cm, được bảo hiểm tới một triệu USD, có ghi dòng chữ Hán: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị Hý bút” (Thái Hòa năm thứ 8 – Đời vua Lê Nhân Tông, 1450 – tượng nhân là Bùi Thị Hý, người châu Nam Sách lưu bút).
Vì sao cặp bình Tình Nhân, âm - dương, lại chỉ còn một? Chiếc bình âm - Tỳ bà, thất lạc ở đâu? Vì sao chiếc bình cổ của Việt Nam lại đến tận đất nước Thổ Nhĩ Kỳ xa xôi? Tượng nhân Bùi Thị Hý là ai? Ở đâu? Sống vào thời nào?

Hậu Chuyện kể năm 2000



HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000
(Thời biến đổi gien)
Kỳ 4


Bùi Ngọc Tấn                                             



Ăn đói mặc rách, các con tôi cứ lớn lên, cứ là học sinh giỏi, ba đứa đỗ đại học. Riêng Giáng Hương, quán xuyến mọi việc trong gia đình, ít có thời gian học tập, chỉ đỗ cao đẳng.([1]) Chúng là tất cả cuộc sống của tôi, là những gì tôi phải cố lo toan trong khi mình bị nhấn chìm và chỉ là một thứ phó người. Sự trưởng thành của chúng còn như một thách thức những người mà tôi có thể chỉ đích danh, sau khi bỏ tù tôi còn muốn vợ chồng tôi ngồi vỉa hè vá xe đạp, bán nước chè chén, các con tôi bơm xe hay móc túi. Mỗi thành công của vợ chồng tôi, của các con tôi đều nằm ngoài ý muốn của họ. Các con tôi đều là những người tử tế, những người lương thiện. Vâng. Chúng đều tử tế và lương thiện. Đó là niềm tự hào của vợ chồng tôi.
Rồi chúng lấy vợ lấy chồng.
Giáng Hương là đứa xây dựng gia đình đầu tiên. Buổi tối sau khi nhà trai đến đón dâu, gian phòng hai mươi mét vuông gắn bó cùng tôi bao nhiêu năm, quen thuộc từng miếng vôi tróc trên tường, từng tia nắng chiếu qua cửa sổ chênh chếch di chuyển theo mùa bỗng nhiên trống hơ trống hoác. Tôi khóc. Giáng Hương không còn trong nhà tôi nữa. Giáng Hương đã được hoài thai từ đây, tập đi từ đây, lớn lên từ đây. Đã đưa đôi vai non nớt của mình chia xẻ gánh nặng cuộc sống với chúng tôi từ đây. Từ nay tối tối lên giường nằm ngủ, không nhìn thấy Giáng Hương tắt đèn rồi sau đó bóng con gái vén màn bước vào và nằm xuống sàn. Bao giờ Giáng Hương cũng là người đi ngủ sau cùng và là người dậy sớm nhất nhà, vào bếp, nhồi mùn, nấu cơm, chuẩn bị bữa sáng. Để đến khi cả nhà dậy đã có cơm ăn, rồi mỗi người một phương, con cái đi học, bố mẹ đi làm. Những bữa cơm ăn trong đèn dầu lúc mờ sáng. Cũng có khi là cơm hâm tuỳ theo giờ làm việc ở cơ quan hay xí nghiệp. Cho cơm nguội vào sanh, lấy muôi miết cơm vào đáy sanh, chiếc sanh nhôm nhà tôi đáy bằng đã có đáy hình quả dưa từ những nhát miết ấy của Giáng Hương khiến tôi nhớ đến câu thơ của ai đó viết về độ dài của cuộc chiến tranh ở nước ta: Khẩu tiểu liên đã mấy lần ngắn lại.