Nhãn

Thứ Bảy, ngày 25 tháng 7 năm 2015

Ký ức làng Cùa (tiếp theo)



 
Ký ức làng Cùa
Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh


                  PHẦN THỨ HAI

Chương mười
                                               

         1

Tháng bảy năm năm tư, làng Cùa bắt đầu Cải cách ruộng đất. Ban chỉ đạo có ba thành viên do một người dong dỏng cao, tóc xoăn, khoảng hăm bảy hăm tám tên là Lạc làm Đội trưởng. Đội Lạc xuất thân thành phần cố nông. Bố mẹ quanh năm làm mướn cho lý Đăng. Một năm nước lụt vỡ đê, mất mùa, bà mẹ ra sông Vệ mò tôm chết đuối mất xác. Tháng tư năm Dậu, sau trận đói khủng khiếp, đồng điền bỗng như có phép lạ, lúa tốt bời bời, khắp xóm dưới làng trên chỗ nào cũng thấy mùi no ấm. Dân kẻ La trông ngóng từng ngày, nóng lòng nóng ruột chờ lúa đỏ đuôi là gặt thử làm một bữa cơm mới cho bõ những ngày ăn củ chuối hoặc rễ rau rền lẫn với cháo cám. Lạc còn nhớ, nửa đêm hôm ấy ông Lục ra thửa ruộng lĩnh canh cắt trộm mấy chục lượm mang về nhà vò rồi cho vào cối giã. Thóc tươi, nhiều hạt còn xanh lè nhưng cuối cùng cũng được nấu thành cơm. Đó là nồi cơm trắng toả mùi thơm đặc biệt hấp dẫn làm cả hai bố con đều nuốt nước miếng ừng ực. Cơm vừa bắc ra bất ngờ Lạc bị một cơn đau bụng dữ dội. Người anh ta toát mồ hôi hột, hai thái dương nhức như bị thít bằng một thứ đai sắt cứ mỗi lúc lại xiết chặt thêm. Ông Lục phải giã ngải cứu vắt nước cho uống nửa giờ sau mới đỡ. Khi Lạc ngủ, ông bố đói quá mở vung nồi xúc cơm ăn trước. Thức ăn chỉ có nắm cua với mấy ngọn rau lang luộc nhưng vì đã bốn ngày chưa có gì vào bụng nên ông đánh liền một lúc sáu bảy bát. Ngon quá. Ông định làm thêm bát nữa cho đỡ thèm rồi đi nấu cháo cho Lạc, bỗng nhiên cảm thấy trong bụng như có cái gì vỡ ra kêu đến bục một tiếng. Ông rùng mình, toàn thân ớn lạnh rồi nằm vật xuống không biết gì nữa. Cơn đau làm Lạc kiệt sức, ngủ mê mệt gần tối mới tỉnh dậy thì thấy ông bố nằm co quắp dưới nền nhà, người đã lạnh cứng. Anh ta sợ quá chạy ra cổng hô hoán. Cụ khoá Lềnh ở kề hàng rào sang sớm nhất, nhìn thấy bộ dạng ông hàng xóm, chép miệng bảo:
- Rõ khổ! Bác ấy ăn cơm mới no quá bục dạ dày.

Tìm hiểu về một số bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn

Tìm hiểu về một số bài thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn

Trần Tư Tề
(Nghiên cứu sinh Trung văn, Đại học Đông Hải, Đài Loan)

1-      Lời đầu
Thơ “Vô đề” do Lý Thương Ẩn sáng tác thường rất khó hiểu nhưng lại vô cùng hấp dẫn các thế hệ độc giả. Đối với thể loại thơ này, Lý Thương Ẩn từng giải thích: “Sở vũ hàm tình câu hữu thác” (Mưa Sở ẩn chứa cái tình đều có sự ký thác). Từ những nét lớn trên mà xét, thơ của ông nằm trong số ít, riêng biệt có sự ký thác, phần lớn đều lấy tình yêu nam nữ làm đề tài, diễn tả tình ý triền miên, hình ảnh sinh động, khiến độc giả mọi thời đại đều nhiệt tình tán thưởng.
Có thể nói, thơ “Vô đề” của Lý Thương Ẩn thuộc dòng bác học tuyệt mỹ, phong cách riêng biệt, xứng đáng là một trường phái trong dòng thơ tình yêu cổ đại Trung Hoa.(1) Lưu Đại Kiệt cũng nhân xét: “Thơ ‘Vô đề’ của Lý Thương Ẩn thuộc thể loại trữ tình, nghệ thuật diễn đạt đặc sắc, được truyền bá rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đối với hậu nhân. Đọc những bài thơ này, chúng ta càng hiểu, Lý Thương Ẩn miêu tả tình yêu bằng thủ pháp kỳ diệu. Ông có sở trường nghiêm túc mà không khinh bạc, trong sáng mà không nông cạn, có tình cảm chân thực trong sự thể nghiệm chân thực, trữ tình mà sâu sắc, ý tứ tinh tế mà thâm viễn”.(2)
Những bài thơ này luôn diễn tả thứ tình cảm chân thành, ai oán, buồn thảm, không chỉ làm xúc động lòng người bằng thi luật tinh xảo, cảnh ngộ u sầu mà còn ở âm điệu hòa hợp, khiến người đọc “nhất xướng tam thán”. Đồng thời, cùng một lúc, lại có sự hòa điệu, khiến người đọc nhận được sự giao cảm giữa âm điệu và sắc thái. Đó chính là điều làm cho rất nhiều độc giả, qua cả ngàn năm, vui vẻ đón nhận sự kỳ diệu của nó.(3) Nói cách khác, sở dĩ, thơ Lý Thương Ẩn được nhiều người hân hoan đón nhận chính là bởi thể loại “Vô đề”.

Chủ Nhật, ngày 21 tháng 6 năm 2015

Ký ức làng Cùa




Ký ức làng Cùa
Tiểu thuyết của Đặng Văn Sinh

             Chương chín  (Tiếp theo)
 

Sau khi rời khỏi làng Cùa, cuộc đời Nhân lại sa vào một bi kịch. Hôm ấy, bụng mang dạ chửa, Nhân cắp gói quần áo đi dọc triền đê, mấy lần định nhảy xuống sông Lăng nhưng nghĩ đến đứa con trong bụng lại chần chừ không nỡ. Khoảng nửa chiều có con đò dọc đậu ở bến Tam Giang sắp xuôi Vạn Giã, cô đánh liều bước xuống xin đi nhờ về kẻ Lủ. Nhìn thấy cô gái xinh đẹp ăn mặc nền nã tay chủ đồng ý ngay. Hắn ta trạc ba tư ba nhăm, rậm râu, tóc húi móng lừa, bắp tay bắp chân cuồn cuộn, ngực nở mày rậm, đặc biệt cặp mắt hoang dại như mắt chó sói nhìn ai cũng muốn ăn tươi nuốt sống người ta. Nhưng bà chủ thuyền còn ghê gớm hơn nhiều. Mụ ta có khi phải hơn chồng năm bảy tuổi, nhác trông chẳng khác gì loại Tú Bà chuyên nghề buôn son bán phấn, đã hết thời xuân sắc phải xuống sông chạy đò dọc. Nhìn thấy Nhân, bà ta ghét lắm định tống cổ lên bờ. Ngữ này cho xuống thuyền chỉ hỏng đám chân sào. Chưa biết chừng gã chồng háo sắc nát rượu kia cũng thèm rỏ rãi cũng nên. Nghĩ vậy mụ ta gọi Nhân vào trong khoang hỏi :
- Cô tên là gì?
- Thưa bà, cháu tên là Nhân.
- Quê quán?
- Thưa . . .ở làng . . .Yên Ninh. -  Nhân buột miệng nói dối.
- Cô có mang phải không?
- Cháu . . .chót dại.
Bà chủ thuyền gật đầu khẽ “hừ” một tiếng :
- Hiểu rồi. . . Bây giờ phải cho cái thai ra đã.
- Thưa bà! Cháu…

Nguyên khí


               NGUYÊN KHÍ
                   Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

         9. ỨC TRAI TIÊN SINH


               Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay
               Trông thế giới phút chim bay. 

                    ( Mạn thuật 4 – Quốc âm thi tập – Nguyễn Trãi)


Lại nói về quan Thừa chỉ Hành khiển Nguyễn Trãi.
Tận dụng những ngày ở Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã dồn hết tâm trí để hoàn thành bộ “Quốc triều Hình luật” mà ông đã hứa với vua Lê Thái tổ trước phút ngài lâm chung. Đây cũng chính là phần hai của “Bình Ngô sách” mà ông từng tâu lên Bình Định vương khi hội kiến người ở Lam Sơn. Ông từng nói với Lê Lợi:“Giành lại nước trong nanh vuốt giặc Ngô lúc này là vô cùng gian nan cực khổ, nhưng không phải là bất khả. Thời Trần thế giặc Nguyên Mông còn lớn gấp bội giặc Minh bây giờ. Vó ngựa quân Mông Cổ từng tung hoành khắp mặt đất, từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, giặc Thát dày đạp Trung Nguyên, khiến người Hán mấy chục năm sau còn khiếp sợ. Vậy mà đến nước Nam ta thì thất bại. Hưng Đạo Đại vương cùng vua tôi nhà Trần ba lần làm cho giặc Nguyên Mông vỡ mật, Thái tử Thoát Hoan phải chui ống đồng mới toàn mạng… Chỉ cần chúa công dùng chước “mưu phạt tâm công” biết đánh vào lòng người, biết dựa vào sức dân, thì nguy nan đến mấy, Đất Nước cũng có ngày giành lại được. Nhưng thưa chúa công, giành được độc lập đã khó, nhưng xây nền tự chủ còn nguy nan gấp bội…”
Rất tiếc là ngay sau khi giành được độc lập, vua Lê Thái tổ đã quá say sưa chiến thắng, choáng ngợp vì vinh quang, tự mãn về công đức, đem lòng nghi kỵ công thần, thích nghe  bọn xu xiểm, bỏ ngoài tai lời nói thẳng. Tiếp đến là những năm ông vua trẻ Lê Thái Tông ham chơi, ít chịu học, ưa dùng bọn lộng thần. Vì thế việc lớn nhất là xây dựng rường cột quốc gia, đưa triều chính vào kỷ cương, khuôn trăm họ sống theo luật pháp… vẫn chưa làm được.
 Nguyễn Trãi cáo quan, bãi triều, tiếng là trí sỹ, ẩn dật, nhưng tất cả tâm trí sức lực vẫn dồn hết cho bộ “Quốc triều Hình luật” mà ông đã thai nghén từ thuở “góc thành nam lều một căn”. Rồi từ hơn chục năm nay, ông cùng các văn thần đồng môn đồng tuế  bao phen lao tâm khổ tứ, đào bới từ những tàng thư bị giặc Minh tiêu hủy để tìm vốn liếng còn lại của ông cha, nhờ các đoàn sứ thần sưu tầm các bộ hình luật của các triều đại Đường, Tống, Minh… để tra cứu, tham khảo. Bây giờ thì bộ sách đồ sộ “Quốc triều Hình luật” gồm 6 quyển, 13 chương, hơn 700 điều, đã hầu như hoàn thành, đang nằm trên án thư kia. Đó sẽ là món quà quí giá nhất mà Trãi này sẽ dâng lên đức vua để ngài phê chuẩn ban bố cho trăm họ. Nước Nam ta từ nay sẽ có quốc luật, quy định mọi hoạt động của nhà nước từ triều đình đến hương xã, từ quan đến dân; mọi lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, chủ quyền, lãnh thổ, bang giao, quân sự, thuần phong, mĩ tục; một bộ luật kỳ vĩ, là rường cột quốc pháp cho  muôn sau.

VÔ ĐỀ

VÔ ĐỀ
(Cảm tác về một chữ “ngông” trong thơ Nguyễn Văn Diệp)

Ai về nhắn bác Diệp nuôi ong(1)
Thơ bác dạo này vẫn…vú mông?(2)
Mật đặc dăm thùng thơm vị nhãn(3)
Đường thi mấy “bị” tỏa mùi…ngông
Một đời dâu bể cười như mếu(4)
Thế sự vô thường có lại không
Mới biết trăm năm là khoảnh khắc
Kinh Thầy (5) cuồn cuộn chảy về đông.

Chí Linh, 21/6/2015
Đặng Văn Sinh
Ghi chú:
(1): Nguyễn Văn Diệp là chuyên gia nuôi ong nổi tiếng của vùng Nam Sách, Hải Dương.
(2): Thơ Đường Nguyễn Văn Diệp thường có những bài hài hước mang yếu tố sex.
(3): Ong được thả ở vùng nhãn mùa ra hoa nên mật có hương thơm của nhãn.
(4): Nguyễn Văn Diệp tuổi Mão (1939), đồng khóa với nhà văn Tô Đức Chiêu, tốt nghiệp ĐH Bách khoa, nhưng gia đình bị quy lên địa chủ, ông thân sinh bị xử tử trong CCRĐ, chẳng những không được trọng dụng mà còn luôn bị kỳ thị thành phần giai cấp.
(5): Con sông chảy bên cạnh làng An Ninh (nay là 2 thôn An Đông và Anh Đoài, xã An Bình, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương).

Thứ Ba, ngày 19 tháng 5 năm 2015

Gặp lại một người bạn nhỏ, cuốn biên niên sử về một thế hệ thanh niên Thủ đô mùa đông năm 1946



Gặp lại một người bạn nhỏ,
cuốn biên niên sử về một thế hệ thanh niên Thủ đô mùa đông năm 1946
        (Tham luận đọc tại Hội thảo khoa học 100 năm ngày sinh nhà văn – học giả Nguyễn Đổng Chi tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 7 tháng 5 năm 2015)
     Đặng Văn Sinh

I. Mở đầu

Giáo sư Nguyễn Đổng Chi là nhà một văn hoá lớn của Việt Nam. Ông thành công trong  nhiều lĩnh vực nghiên cứu như văn học, sử học, khảo cổ học, dân tộc học với những tác phẩm nổi tiếng như Mọi Kontum (nghiên cứu dân tộc học, viết chung với Nguyễn Kinh Chi – 1937); Túp lều nát (phóng sự về tệ nạn cường hào ở nông thôn Nghệ Tĩnh, 1937); Việt Nam cổ văn học sử (nghiên cứu văn học sử, 1942); Hát giặm Nghệ Tĩnh (nghiên cứu dân ca, 1944); Lược khảo về thần thoại Việt Nam (1956); Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (5 tập, 1957 – 1960, viết chung); Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập, 1957 – 1982); Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh (1980 – 1984), Góp phần tìm hiểu phong trào nông dân trong lịch sử (3 tập, 1965 – 1978, chưa xuất bản). Tuy nhiên, Nguyễn Đổng Chi còn là một nhà văn mà không phải ai cũng biết đến nếu chưa đọc cuốn sách Gặp lại một người bạn nhỏ nổi tiếng của ông.
Cho đến nay, Gặp lại một người bạn nhỏ đã được in đến 4 lần bởi 3 nhà xuất bản. Lần thứ nhất, nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1957. Lần  thứ hai, nhà xuất bản Hà Nội, 1986. Lần thứ ba, nhà xuất bản Văn học 1999. Và, lần thứ tư, kỷ niệm một nghìn năm Thăng Long – Hà Nội, do nhà xuất bản Hà Nội ấn hành với văn bản đầy đủ nhất còn lưu giữ trong thư viện gia đình tác giả.

Chủ Nhật, ngày 19 tháng 4 năm 2015

Nguyên khí (tiếp theo)

                    NGUYÊN KHÍ

            Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường



               8. Nội quan Tạ Thanh

                          Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết
           Bui một lòng người cực hiểm thay.
                                                       
      ( Mạn thuật 4 - Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi)


Vào cái buổi sáng tinh mơ Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh xẻo lưỡi lão Câm ở chùa Huy Văn, có hai sự việc nữa, làm kinh động kinh thành Thăng Long.
Đó là cái chết bất ngờ của quan vệ úy Lê Nguyên Sơn và tai nạn khủng khiếp với  phù thủy Trần Văn Phương.
 Lê Nguyên Sơn sau khi đã hành quyết lão Câm và cho quân tát nước ngập tràn rồi đào phá tanh bành căn hầm bí mật sau chùa Huy Văn, vừa dẫn quân đi lùng sục quanh làng thì bị một mũi tên từ đâu đó bắn xuyên tim, chết ngay dưới chân ngựa. Còn phù thủy Trần Văn Phương thì vừa thay phiên dọn chuồng voi, liền bị con voi già giở chứng dẵm nát thây ngay ở cửa chuồng.
Nội quan Tạ Thanh, tức tốc gặp Hoàng hậu Nguyễn Thị Anh bẩm báo :
- Tâu Hoàng hậu, thần đã tuân ý chỉ…Tay phù thủy đã bị tội voi giày… Còn Lê Nguyên Sơn thì…Đội cấm quân đang lùng bắt kẻ đã bắn lén quan vệ úy. Dân chúng đồn ầm lên rằng đồ đảng của Tiệp dư Ngọc Dao đã giết Lê Nguyên Sơn để trả thù cho lão Câm…
Hoàng hậu lặng đi.
 Dẫu đã biết kết cục số phận của Lê Nguyên Sơn, nhưng trái tim tuổi mười tám của người đàn bà xinh đẹp và đầy uy quyền vẫn âm thầm tan nát. Những kỷ niệm như mới hôm qua cứ hiển hiện về. Làm sao quên được chuyến giã từ tuổi thơ, giã từ cái làng quê nghèo Bố Vệ ngày ấy. Không có chàng, sẽ chẳng có kinh thành Thăng Long hôm nay. Không có chàng, không có Hoàng thái tử Bang Cơ bây giờ. Không có chàng…sẽ không có những giây phút hạnh phúc lứa đôi mà một người đàn bà dẫu có thể trở thành Hoàng hậu, quyền bính, vinh hoa tột đỉnh, nhưng vẫn không thể được tận hưởng niềm hoan lạc tột cùng…