Nhãn

Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

Hai tác phẩm dự giải thường Hồ Chí Minh 2011 của ông Hữu Thỉnh: một tập thơ dở và một tập trường ca phạm quy



Hai tác phẩm dự giải thường Hồ Chí Minh 2011 của ông Hữu Thỉnh: một tập thơ dở và một tập trường ca phạm quy

Trần Mạnh Hảo 

 


TRAN MANH HAOBài viết này chúng tôi không nhằm nói về sự bất cập của các loại giải thưởng quốc doanh có tên là “Xin-cho” với quá nhiều tiêu cực đang được báo chí rầm rộ lên tiếng phê bình. Chúng tôi chỉ bàn đến một trường hợp cụ thể là nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, bí thư Đảng Đoàn hai tổ chức trên, đồng thời là thành viên chấm giải thưởng nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2011.
Hầu hết 10 nhà văn nhà thơ được xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 đều đã từng được giải thưởng nhà nước năm 2001. Những tác phẩm hay nhất của 10 vị này: Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Lê Lựu, Phạm Tiến Duật, Ma Văn Kháng, Lê Văn Thảo, Hồ Phương…đều đã được giải thưởng nhà nước năm 2001 hoặc sau đó. Nay chỉ còn những tác phẩm trung bình và kém cỏi của họ lại được đôn lên xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 thì quả là nghịch lý với tiêu chí giải thưởng. Chúng tôi sẽ lần lượt phê bình những tác phẩm khá dở và nhạt nhẽo của các vị trên được giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay trên các báo mạng trong và ngoài nước.
Nay xin xét trường hợp ông Hữu Thỉnh.
Ông Hữu Thỉnh là nhân vật chủ soái xét chọn những nhà văn được giải thưởng nhà nước và giải thưởng nhà văn năm nay, lẽ nào ông không biết quy định của nhà nước trong việc xét giải thưởng văn học nghệ thuật 2011:
- Những tác phẩm nào đã được giải thưởng nhà nước các năm trước, tuyệt nhiên không được đưa ra xét giải thưởng nhà nước và giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay.
Trong hai tác phẩm của ông Hữu Thỉnh đưa ra xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm nay, có một tác phẩm phạm quy.
Đó là tác phẩm “ Trường ca Biển” của Hữu Thỉnh, do NXB Quân đội nhân dân ấn hành 2004. Trang 3 là trang bìa lót của tác phẩm này, dưới tiêu đề : “Trường ca Biển” có ghi rõ ràng như sau : “Tuyển trường ca đoạt giải văn học”. Tác phẩm : “ Trường ca Biển” này in gộp ba trường ca thành một cuốn sách : “Sức bền của đất”, “ Đường tới thành phố” và “ Trường ca biển”.
Trong lời nói đầu của NXB QĐND, in ở trang 5, có đoạn viết như sau : “Trường ca Đường tới thành phố đã được giải thưởng nhà nước đợt một năm 2001”. Trang 45 của cuốn sách in trường ca : “Đường tới thành phố”, có in kèm rằng : “Giải thưởng Hội Nhà Văn năm 1980, Giải thưởng Nhà Nước đợt một -2001”.
Như vậy, rõ ràng ông Hữu Thỉnh đã phạm quy : ĐƯA MỘT TÁC PHẨM ĐÃ ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG NHÀ NƯỚC NĂM 2001 RA XÉT GIẢI THƯƠNG HỒ CHÍ MINH NĂM 2011.
Tập thơ thứ hai của ông Hữu Thỉnh đưa ra xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 là tập thơ dở và nhạt nhẽo vô cùng : “ Thương lượng với thời gian”.
Năm 2006, khi tập thơ này của ông Thỉnh được giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam, chúng tôi (tức TMH) đã viết bài phê bình tập thơ trên là dở và nhạt nhẽo, in trên nhiều trang mạng trong nước và hải ngoại, có tên: “Thương lượng với thời gian, hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng”. Bài phê bình của chúng tôi tung ra trước lễ trao giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam cả tháng trời mà tịnh không có ai trong ban giám khảo đã trao giải cho ông chánh chủ khảo Hữu Thỉnh lên tiếng bênh vực ông, cũng không hề có nhà phê bình quốc doanh nào lên tiếng phản bác bài của chúng tôi; đại loại rằng tập thơ này của anh Thỉnh hay lắm, rằng ông Hảo dốt nên không biết được cái hay mà thôi…
Ngày 30-11-2006, là ngày phát giải thưởng cho tập thơ “Thương lượng với thời gian” tại trụ sở Hội Nhà Văn Việt Nam; hình như sau bài phê bình của chúng tôi, ông Hữu Thỉnh có biết tập thơ mình dở và nhạt nhẽo, nên đã thức tỉnh lương tri, đột ngột xin rút cái giải thưởng mà chính ông đã cầm bút ký cho ông là tác phẩm: “Thương lượng với thời gian”.
Nay, không hiểu vì ý đồ gì ông Hữu Thỉnh lại dám cả gan đưa tập thơ mà ông thừa biết không xứng đáng nhận giải thưởng Hội nhà Văn năm 2006 ra để được trao giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 này, thì thử hỏi không còn giời đất gì nữa à ?
Chúng tôi buộc lòng phải trưng ra đây bài phê bình của mình về tập thơ này của ông Hữu Thỉnh : “Thương lượng với thời gian hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng” từng in trên các web 05 năm trước để quý bạn đọc phán xét.
Sài Gòn 30-8-2011
*
Nhà thơ TRẦN MẠNH HẢO
Nhà thơ TRẦN MẠNH HẢO
“THƯƠNG LƯỢNG VỚI THỜI GIAN” HAY THƯƠNG LƯỢNG VỚI HỘI ĐỒNG CHẤM GIẢI THƯỞNG…?
Tập thơ “Thương lượng với thời gian” (NXB Hội Nhà Văn – tái bản năm 2006) của nhà thơ Hữu Thỉnh vừa được giải thưởng văn học của Hội nhà Văn Việt Nam năm 2006 (cùng với tác phẩm “Cánh đồng bất tận” của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư), đã phải “thương lượng với dư luận” trong nước một cách khá ác chiến.
Mở đầu là bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Thân: “Thơ nhà giải vườn” in trên báo Lao Động chủ nhật ngày 29-10-2006, lên án khá gay gắt khả năng vô tận “mẹ hát con khen hay” của ông Chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh, đã tự mình thưởng thức 04 lần ăn “giải vườn” của “Thơ nhà”, trong 04 lần ông được giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam, kể cả giải thưởng “Vua Thái Lan” gọi là “giải Asean- 1000 USD” do ông tự phong mình lên giải – Ấy là chưa kể “Giải thưởng văn học Quốc gia” là 05 lần ông ăn giải, và nhiều “giải” khác do ông làm chủ tịch Hội đồng giám khảo, hoặc do chính ông tự đề cử “giải cho ông” trong một thành phần giám khảo do chính ông Hữu Thỉnh thiết kế ! Có thể gọi nhà thơ Hữu Thỉnh là một nhà “Giải… học” vì kỷ lục ăn giải văn chương của ông trong thời đại ngày nay là vô địch… thế giới . Vì bài viết phê phán ông Hữu Thỉnh của nhà văn Nguyễn Quang Thân rất hay, rất thâm thuý nên chúng tôi không thể trích vài dòng ra đây, đành in kèm sau bài viết này làm căn cứ để quý độc giả tham khảo.
Hữu Thỉnh – vua ăn giải văn chương Việt Nam hình như bị cái “dớp”: ăn xong tức bụng muốn ói ! Đó là lần ăn giải thưởng đầu tiên của Hội Nhà Văn Việt Nam của ông, cuốn trường ca “Đường tới thành phố” đã bị nhà thơ Xuân Diệu phê phán là dở vô cùng, là không biết làm thơ, là tào lao chi khươn ngay trên báo Văn Nghệ. Lần thứ hai ăn giải thưởng Hội Nhà Văn của ông Hữu Thỉnh là tập thơ “ Thư mùa đông” lại bị một “ngôi sao tiền chiến” khác là nhà văn Tô Hoài chê hết cỡ trên báo “Văn Nghệ” rằng : Thơ Hữu Thỉnh chỉ là một gánh đồng nát ( ve chai) !
Sau khi nhà văn Nguyễn Quang Thân lên tiếng phê ông Hữu Thỉnh “ăn tham, kiểu tự mình cho mình giải thưởng là vừa đá bóng vừa thổi còi, vừa lĩnh thưởng, vừa khen ban chấm giải … công minh”, nhân việc nhà thơ Ly Hoàng Ly từ chối nhận “tặng thưởng” của Hội nhà văn cho tập thơ “Lô Lô” của mình, xin quý vị xem ba nhà thơ ở Hội đồng thơ xét giải năm nay vừa cùng lên tiếng, như một cách phê phán chính ông Chủ tịch Hội Nhà Văn ăn giải nhất cuốn “ Thương lượng với thời gian”, chỉ vì do ông biết cách “Thương lượng” với Hội đồng xét giải thưởng chung khảo; vì “Bề… Hội đồng” này cũng do chính ông đề cử !
Nhà thơ Thanh Thảo, trên báo “Người Lao Động”, thứ sáu ngày 27-10-2006, viết như sau: “Ở hội đồng Thơ, thì số phiếu bỏ cho tập thơ “Lô Lô” của Ly Hoàng Ly cao hơn số phiếu bỏ cho tập thơ “Thương lượng với thời gian” của nhà thơ Hữu Thỉnh. Chính tôi và nhà thơ Chim Trắng, khi được nhà thơ Nguyễn Đức Mậu yêu cầu bỏ phiếu qua điện thoại, đã nói thẳng quan điểm của chúng tôi: Không bỏ phiếu cho tập thơ Hữu Thỉnh vì thương quý bạn mình, không muốn anh Thỉnh phải rơi vào hoàn cảnh khó xử, khó ăn khó nói nếu anh lại được giải thưởng lần nữa (có người gọi là “hattrick-giải thưởng). Tiếc thay, việc đó đã xảy ra
Nhà thơ Chim Trắng, một uỷ viên Hội đồng Thơ khác, cũng trên tờ báo vừa dẫn, viết : “…Tôi đã nói thẳng tôi không bỏ phiếu cho “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh. Vì tôi thương anh Thỉnh, anh đang làm Chủ tịch Hội, lại đã ba lần được giải trong và ngoài nước rồi (chính ra là 04 lần ông H.T. ăn giải do Hội Nhà Văn đề cử : thêm giải văn học Quốc gia- chú của TMH); “vừa đá bóng vừa thổi còi” là người ta dị nghị không hay. Giải thưởng lần này chẳng những không minh bạch mà còn không dân chủ”.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, một uỷ viên Hội đồng Thơ khác, đồng thời là Trưởng Ban Thơ báo Văn Nghệ, viết trên http://www.evan.com.vn như sau : “Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam không có được uy tín như giải của Hội nhà văn Hà Nội. Theo tôi thì có nhiều nguyên nhân. Một phần vì cuốn sách được giải không có sức thuyết phục, phần vì người ta nghi ngờ cách thức chấm và xét giải của Hội…” (http://www.evan.com.vnhttp://www.evan.com.vn/News/Home/)
Nhà văn Phan Hồng Giang, uỷ viên Hội đồng chung khảo Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006, viết trên báo “Thể thao & Văn hóa” số 126, ngày thứ bảy 21/10/2006 như sau : “Nói một cách công bằng, tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh được nhất trí cao của các thành viên trong Hội đồng, tất nhiên những mối quan hệ ngoài văn chương cũng rất khó tách bạch. Song cũng nên ghi nhận “ Thương lượng với thời gian” là một bước tiến trong thơ Hữu Thỉnh so với chính ông ấy. Còn so với mặt bằng thơ ca thì không có gì nổi trội…
Thưa nhà văn Phan Hồng Giang, uỷ viên Hội đồng chung khảo xét giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2006, nếu tập thơ “Thương lượng với thời gian” của nhà thơ kiêm Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam, kiêm Bí thư Đảng Đoàn Hội Nhà Văn, kiêm Tổng biên tập “Tạp chí Thơ” “KHÔNG CÓ GÌ NỔI TRỘI” SO VỚI MẶT BẰNG THI CA chung cả nước, thì vì sao tập thơ này lại được các vị trao giải thưởng số một ạ ? Hay là NÓ được giải vì như Phan tiên sinh viết ở trên là do “MỐI QUAN HỆ NGOÀI VĂN CHƯƠNG”, nói trắng ra là vì ông Chủ tịch Hội Nhà Văn đã cấu thành một Hội đồng chung khảo, rồi ông Chủ tịch “tế nhị, khách quan ?” xin rút khỏi hội đồng xét giải, sang phòng bên ngồi chờ “Bề… Hội đồng” vô tư chấm giải theo tiêu chí “THƯƠNG LƯỢNG” với “THỜI GIAN : nay tôi mai tới các ông” kiểu : “Trong nhà nhất mẹ nhì con/ Nay tôi được giải mai còn…các ông !” ? Xin hãy nhìn “BỀ… HỘI ĐỒNG” chung khảo năm nay xem bao nhiêu ông đã ẵm giải Hội Nhà Văn V.N., ẵm giải Quốc gia, ẵm giải “Vua Thái Lan- Asean 1000 USD” và sắp tới lần lượt các vị ‘bề hội đồng” này chắc như đinh đóng cột sẽ lần lượt được ông Chủ tịch trả ơn mà ban cho mưa móc giải thưởng văn chương tới số !
Chúng tôi xin phép được nói ngược lại lời nhà văn Phan Hồng Giang mà rằng: tập thơ “Thương lượng với thời gian” là một bước lùi, một sự xuống dốc không phanh về chất lượng thơ của thơ Hữu Thỉnh so với hai tập thơ được giải trước của ông : “Đường tới thành phố” và “Thư mùa đông”.
Trong cuộc đời làm thơ, viết văn, viết phê bình văn học mà tuổi nghề đã trên 40 năm, tôi chưa từng được vinh dự đọc một tập thơ nào mà lại nhạt nhẽo, sáo mòn như tập thơ “Thương lượng với thời gian” này của Hữu Thỉnh. Bằng tập thơ ăn giải nhất của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006 này, Hữu Thỉnh đã có thể trở thành người vô địch về khả năng nhạt nhẽo và sáo mòn, xứng đáng trở thanh nhà “NHẠT HỌC”, hay một “NHÀ SÁO HỌC, SẾN HỌC” của thơ ca Việt Nam. Chúng tôi xin lần lượt chứng minh.
Để cho những nhận định trên được khách quan, trước khi phân tích về cái thiên- tài-nhạt của tập thơ này, chúng tôi xin trích ra đây ba bài thơ : bài đầu tiên, bài có tiêu đề mà cả tập thơ mang tên và bài thơ cuối cùng của tập “Thương lượng với thời gian” để xin quý bạn đọc xem thơ này “nhạt” hay mặn”, “mới” hay “mòn cũ”
Đây là bài thơ đầu tiên trong tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh:
SANG THẾ KỶ
Sang thế kỷ với con tàu quá rộng
Hoa hồng sang, gai nhọn cũng sang

Tay vun cây và bão dập mùa màng
Sông ôm sóng cả bên bồi bên lở
Thương cảm, phản thùng, khoan dung, thớ lợ
Vé trên tay thanh thản bước lên tàu

Kẻ chậm chân có thể là mây nõn
Mải ngu ngơ với chim mới ra ràng
Kẻ chậm chân có thể là anh nữa
Trái tim cồng kềnh thơ phú đa mang

Cuối năm 1999
Chúng tôi xin mạn phép nhận xét bài thơ này : bài thơ này không có tứ hay, không có câu hay, không có triết lý bề sâu bề xa gì hết. Nhất định nó không phải là bài thơ khá, tuyệt nhiên không thể gọi là hay. Nhưng khốn nỗi, nó lại không dở. Giá nó dở thì ta đã còn mừng cho Hữu Thỉnh, vì làm bài thơ này dở thì biết đâu còn bài khác sẽ hay. Nhưng cái tội nhạt thì vô phương cứu chữa. Bài thơ này làm phiền người đọc vì nó nhạt, nhạt hơn nước ốc mà sao Hội đồng chấm giải Hội nhà văn lại cả gan khen chao ôi nước ốc ngon quá ? Truyện “”Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng?” được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)
Bài thơ có tiêu đề mang tên cả tập thơ :
THƯƠNG LƯỢNG VỚI THỜI GIAN
Buổi sáng lo kiếm sống
Buổi chiều tìm công danh
Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa

Tỉnh thức
Những hàng cây bật khóc
10-2005
Xin lạm bàn : bài thơ “triết lý” quá khiếp này không thể “CẢM” được, nên cũng chẳng “NHẬN” được thông điệp cao siêu bí hiểm nào của tác giả. Có lẽ Hữu Thỉnh bắt chước câu đố chết người của con Nhân Sư trong thần thoại Hi Lạp, rằng : “Con gì : Buổi sáng đi bốn chân/ Buổi trưa đi hai chân/ Buổi chiều đi ba chân ?” Nếu ai không giải được câu đố này : con đó là Con Người, thì Nhân Sư sẽ ăn thịt. Câu đố của con Nhân Sư xưa thiệt là sâu sắc, thiệt là hay ! Còn câu đố thơ trên của Hữu Thỉnh quả tình vớ vẩn, chẳng ra làm sao. May mà ông Hữu Thỉnh không phải là con Nhân Sư xưa, nếu không Hội đồng chung khảo giải thưởng Hội Nhà văn ( và cả TMH) vì không sao giải được bài thơ trên, chắc chắn đã bị ăn thịt ! Gữa cái chuyện “Buổi sáng”, “Buổi chiều”, “Buổi tối” kia với cái sự “Tỉnh thức” thấy “Những hàng cây bật khóc” kia chẳng có mối “quan hệ nhân quả bên trong” hay “quan hệ nhân quả bên ngoài” nào với nhau để từ cái “đôn” này, mới kê được cái “khái quát” không đâu kia lên tầng tầng ý nghĩa; những món này là thi pháp “râu ông nọ cắm cằm bà kia” hay thi pháp “ông nói gà bà nói thóc lép” của Hữu Thỉnh ? Chao ôi là “Những hàng cây bật khóc” : vì tự nhiên nó bị ông nhà thơ choàng tỉnh trong mơ điều tới đây, bơ vơ không biết để làm gì, hoặc có ý nghĩa gì ? Cây khóc, đất khóc, trời khóc, sông khóc, mèo khóc, sao khóc, khỉ khóc…là những motif quá sức mòn sáo mà chỉ những anh lười trong nghề làm thơ mới ưa lạm dụng ! Đây là bài thơ do “bệnh nhạt” mà sinh ra : anh đã bản chất nhạt, hồn nhạt, tài nhạt, chữ nhạt, ý nhạt, trí nhạt, giấy nhạt, giám khảo nhạt, giải nhạt… lại cứ muốn làm mặn mình bằng cách làm dáng trí thức, làm dáng uyên bác mà lên gân triết lý triết… lung… tung… beng thì chẳng còn gì thơ với chả phú ! Nhà thơ nhàn nhạt này trong trường hợp trên, chừng như khá giống như một ả bản chất vốn vô duyên mà lúc nào cũng thích thõng thẹo làm duyên vậy ? Truyện “”Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng?” được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com) Truyện “”Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng?” được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)
Bài thơ cuối cùng của tập thơ “Thương lượng với thời gian” :
MỘT MÌNH
Xa em đói tiếng, đói hình
Trời xanh với chỉ một mình trời xanh
Nghe giờ nén nhớ trong anh
Gấp đêm làm gối chẳng thành giấc em

Tuyên Quang 2001
Xin lạm bàn : Bài lục bát bốn câu này cũng nằm trong “phong cách nhạt” của Hữu Thỉnh: không tứ độc đáo, không ý sâu xa, không có câu hay, câu thứ 04 cầu kỳ, sáo mới, còn gọi là sến… Ngoài ra, hai nhịp lục bát trên còn bị một sai phạm, một tối kỵ là lặp vần: cặp vần: “hình/mình” còn tiếp tục đồng vận với cặp vần sau: “xanh / anh / thành” mà một người mới tập tẹ làm thơ cũng cần phải biết để tránh. Câu thứ hai: “Trời xanh với chỉ một mình trời xanh” trên của Hữu Thỉnh là thoát thai từ câu ca dao: “Trúc xinh trúc đứng một mình cũng xinh” ! Truyện “Thương lượng với thời gian” hay thương lượng với Hội đồng chấm giải thưởng? được copy từ Diễn đàn Lương Sơn Bạc (LuongSonBac.com)
Sau khi đọc đi đọc lại ba lần xong 56 bài thơ trong tập “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh , chúng tôi thấy có khoảng ngót bốn mươi bài “đại nhạt”, chừng ngót chục bài “nhạt vừa”, nể nang, đưa đẩy mãi mới tìm ra được năm bài khá khá, đọc được, ví như bài “Cung tháng chạp” trang 61, theo nhịp thất ngôn na ná lối thất ngôn mê đắm nơi bài “Thanh Xuân” của nữ thi sĩ Nhã Ca trong “Nhã Ca mới” xưa của Sài Gòn, được Hữu Thỉnh “mạ” lại “e thơ xưa” cho có vẻ bay bướm qua hơi thơ nữ tính vốn là sở trường của tập thơ “Thư mùa đông” trước kia của Hữu Thỉnh:
“Vạc mảnh bờ con cua mất quê
Rau đay làm lẽ buổi tôi về
Ổi đào lên tỉnh xem son phấn
Mẹ vẫn chờ em dóc mía de

Gió nảy đàn tre cung tháng chạp
Trăm câu không đỡ nổi câu tình
Em mang thiên lý về thưa mẹ
Sông vẫn ba đào trúc vẫn xinh”
1988
Bài “Xa vắng” cũng là bài thơ khá khá vì giàu xúc cảm và ngổn ngang trăn trở nỗi niềm… Nhưng với mấy bài thơ kha khá như vài hạt muối tẻo teo trên đây, liệu có thể cõng nổi cả một đại dương nhàn nhạt là toàn tập thơ chăng ?
Khắp cả tập thơ, đâu đâu ta cũng gặp những câu thơ sáo mới, còn gọi là sến, sống sượng, ngô nghê, giả tạo, khiên cưỡng, triết lý vớ vẩn… vô cùng nhiều, chỉ xin trích ra mấy câu làm bẳng, như sau : “Đến quả chín cũng phải cần vỏ bọc/ Hai đứa mình vừa bóc một lần yêu”(90), “Sóng còn lưu luyến sông” (73), “Lấy khoan dung làm chiếc phao bơi/ Khiến cay đắng cũng nhuốm màu tha thứ” (59), “Trời đất lại bén duyên/ Mùa xuân lo dạm hỏi” (41), “Trẻ trung thế chỗ em rồi/ Thắm tươi thế chỗ thắm tươi thuở nào” (43), “Bánh trôi nước vỗ đường không gặp bóng”( 29), “Trưa cổ xưa hương đưa bảng lảng” (57), “Qua khu rừng có lời ca dẫn dắt” (87), “ Lật hạt gạo lại thấy em đang hát” (27), “Mẹ mong em vấp phải cầu vồng” (29), “Cho con lên an ủi mặt trăng buồn” ( 31), “Đến với ai gặp nạn/ Xong rồi chơi với cây” (45), “Hoa hôm nay thay chủ nhà tiếp khách/ Một mùi hương thao thiết tới mai sau” (58), “Gió trên đường lai láng” ( 27), “Bí mật của trời trong/ Là tránh xa mây đục” (60), “Anh lầm lì như đất / Ai nói gì cứ nâu”(80), “Có con tàu mệt mỏi/ Thét còi trong tim anh”(94), “Em nhớ thương ơi/ Chúng ta sống vì nhau/ Chúng ta hát vì nhau/ Chúng ta buồn vì nhau/ Trời thấy vậy cho mùa xuân trở lại” (88)…
Hữu Thỉnh đã nhạt còn lười, viết nhiều câu thơ y chang câu nói tầm thường, lại thừa chữ vô tội vạ, chỉ xin lấy một ví dụ :
“Anh đã một lần chạm PHẢI mắt em
Chỉ lần ấy mà sao không gỡ nổi
Anh như MỘT đôi cánh chuồn chuồn
Bị chấm nhựa trong ngày tươi sáng ấy” (87)
Hai chữ : PHẢI và MỘT viết in hoa trên là hai từ thừa cần phải bỏ!
Trước khi chấm dứt bài phê bình này, chúng tôi xin nhờ may rủi, mở bất chợt một bài thơ nào đó trong tập thơ này của Hữu Thỉnh lên theo kiểu bói Kiều, để trích ra cho bớt tệ, bớt nhạt, bớt làng nhàng có cũng như không, đặng kiếm chút “cháo lá đa thơ” mà an ủi tác giả và an ủi cả Hội đồng giám khảo giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2006, nhưng mở ngay vào bài thơ tệ vào hàng nhất tập là bài “ Thợ lặn cầu Thăng Long” trang 64, 65, 66, vừa đại nhạt lại đại dở, lại dài, sợ trích ra mà tra tấn quý vị bạn đọc thế này thì vô nhân đạo quá !
Chúng tôi xin chơi trò may rủi đợt hai mà bất chợt mở ra bài thơ khác, xem nó là bài gì ? A, bài “Gửi bạn triền sông” Hữu Thỉnh viết từ tháng 2-1981, một bài thơ “nhạt vừa”, “dở vừa”, “sáo vừa”; có đến ba phần tư số bài trong tập này của Hữu Thỉnh được xếp vào cùng loại với “Gửi bạn triền sông” ; chúng tôi dám thách đố cả một dân tộc Việt yêu thơ, nếu ai tìm thấy trong bài thơ này của Hữu Thỉnh một câu gọi là thơ, hay tìm ra ý nghĩa mỹ học, triết học sâu xa nào đó bên trong, thì từ nay Trần Mạnh Hảo xin thề sẽ chấm dứt viết phê bình thơ !
Bài thơ đó như sau :
GỬI BẠN TRIỀN SÔNG
Tặng Hường
Bạn trở về làm lụng dọc triền sông
Nước mấp mé mây vần, ô mạ trũng
Căn nhà đất ánh đèn dầu cuối xóm
Bạn đi về khuya sớm lo toan

Bạn trở về lấy vợ sinh con
Hạnh phúc nhỏ hai bàn tay che chúm
Lớp trẻ mới lớn lên. Bạn ngỡ ngàng kết bạn
Tâm sự nào áo lính vẫn sờn kia ?

Những khu rừng, những trận mạc đã qua
Giờ thấp thoáng sau cái vè cắm nước
Hạt lúa ta trồng mà mừng như bắt được
Những quả duối chín mòng trẻ lại ríu chân lên
Chiếc mũ cối bạc màu lại dậy sớm thức khuya 
Mưa tháng bảy tầm tầm bong bóng vỡ
Bạn lại được chuyện trò cùng tuổi nhỏ
Ếch mong mưa kêu váng ở sau đìa

Tất cả vẫn như xưa, tất cả lại bắt đầu
Đồng sau vụ đi đường cày thứ nhất
Bạn đã tập đi nghiêm, bạn đã tập đi đều và tập hát
Và bây giờ âu yếm giục trâu đi
Vĩnh Yên, 2-1981
Để nói lời sau cùng trước độc giả về “hiện tượng siêu giải thưởng” này, chúng tôi chỉ xin thông qua việc Hội Nhà văn Việt Nam lần thứ tư vừa trao giải thưởng năm 2006 cho tập thơ “đại nhạt”, đại vớ vẩn là tập thơ “Thương lượng với thời gian” của ông Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam là ông Hữu Thỉnh, chúng ta đủ thấy nền văn học Việt Nam do “Đảng ta” lãnh đạo đang đi về đâu ?
(bài của Trần Mạnh Hảo trong http://www.ykien.net)


Trần Mạnh Hảo - Trường Ca Biển: Một tác phẩm làng nhàng nhạt nhẽo của Hữu Thỉnh sắp được giải thưởng Hồ Chí Minh



Trần Mạnh Hảo, viết phê bình văn học, làm thơ, viết báo


Chia sẻ bài viết này
Trên các trang mạng, chúng tôi vừa công bố bài viết: “Hai tác phẩm của ông Hữu Thỉnh dự giải thưởng Hồ Chí Minh 2011; một tác phẩm dở và một tác phẩm phạm quy”. Trong bài báo này, chúng tôi đã phân tích cặn kẽ và chứng minh rõ ràng rằng tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh dự xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 là một tập thơ dở, nhạt nhẽo, ít có giá trị nghệ thuật. Nay chúng tôi xin mời quý độc giả cùng chúng tôi khảo sát thêm một tập thơ khác là “Trường ca Biển” của Hữu Thỉnh (do NXB Quận đội nhân dân in năm 2004 – trong đó in kèm hai trường ca: “Đường tới thành phố”“Sức bền của đất”). Trong tập “Trường ca Biển”, trường ca này in từ trang 143 đến trang 202, chia làm sáu chương.
Chúng tôi buộc lòng phải làm khổ bạn đọc là xin trích nguyên chương một “Trường ca Biển” ra đây để nhờ qúy vị độc giả, hoặc nhờ quý vị trong hội đồng xét đề cử giải thưởng văn học Hồ Chí Minh 2011 của Hội nhà văn Việt Nam, quý vị trong hội đồng xét giải thưởng văn học nghệ thuật Hồ Chí Minh của nhà nước có con mắt xanh chỉ dùm cho chúng tôi xem, trong “biển thơ” dài dằng dặc của chương một mở đầu này, chất thơ nằm ở đâu, chất nghệ thuật nằm ở đâu? Chứ chúng tôi, vốn người trần mắt thịt, chỉ thấy toàn bộ chương “Dốc biển” mở đầu “Trường ca Biển” này của Hữu Thỉnh toàn chữ là chữ mà tịnh không thấy một câu thơ.
Xin trích:
Chương một: Dốc biển
Đi hết Trường Sơn ra với đảo
Dốc lại dựng lên trong mỗi ngày thường
Mỗi ngọn sóng một đỉnh đèo thác trắng
Bóng mát thật hiền dưới vành mũ gian nan
Đến một ngày kia những người lính đã tới biển của mình. Cuộc gặp gỡ của triệu năm với đứa con trận mạc. Không chỉ là người lính lạ lẫm, chính biển lạ lẫm đầu tiên. Biển thốt lên: "Người sắp thắng trận sao mà hốc hác quá". Những người lính cầm le ta cành sú hoe vàng, cầm luôn cả một miền che chở mới. Người lính nói: "Tôi đi qua nhiều bóng mát để về đây". Bóng mát đã lùi xa. Mực tím đã trải lại cho tuổi học trò. Tiếng gàu sòng đã trả về cho cơn hạn hán. Trước mặt là biển, bốn bề là biển, hình như phải nói một câu gì với biển. Và người lính nói: - Hôm nay tôi thấy biển lần đầu. Biển nói: - Mái gianh nhà anh không nói thế. Vại nước gốc cau nhà anh không nói thế. Người lính nói: - Tôi phải làm gì. Biển nói:- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.
Đó là, nghi lễ đầu tiên và nghi lễ cuồi cùng. Người lính nói: - Mẹ dặn tôi: Ra sông lấy sóng mà yêu.Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin.Tôi đã tin và chưa hề bị ngã. Biển nói:- Không ngã chưa chắc đã khỏi chìm. Người lính nói: - Có bí quyết gì sau sóng kia chăng? Biển nói: - Sống với nước hãy bắt đầu từ nước. Người lính nói:Tôi đã đi suốt hai đầu đất nước. Biển hiu hiu thán phục: - Những vết thương của tôi nhiều hơn cả tuổi đời. Biển hiu hiu thán phục. Và biển chỉ hỏi anh đơn giản điều này: - Anh có biết bơi không? Người lính nói: - Không phải ai cũng biết bơi. Thế mà sao vẫn rất nhiều cái huơ tay hãnh tiến. Biển nói: - Họ đang bơi trên số phận của mình. Một nửa trí khôn của con người là tìm cách chứng nhận mình và chứng nhận lẫn nhau. Người lính nói: - Cây không đi tìm gió, nhưng kẻ thù sẽ đến tìm ta. Ta lấy gì để che mắt chúng? Màu cát hay màu biển.Biển nói- Còn lại một mình anh. Người lính nói: - Tôi phải làm gì? Biển nói: - Sống với nước hãy bắt đầu từ nước. Người lính nói: - Tôi có nhiều bạn
Tôi cầm tay nhiều người
Nhiều người cầm tay tôi
Tôi sẽ gọi tên ai đầu tiên trong cơn khát biển? Biển nói: - Kẻ thù nói ngoài khơi có vàng và tìm cách cướp vàng. Bạn bè nói ngoài khơi có sóng dữ và chia sóng cùng anh
Hãy gọi ai không biến sóng dữ của kẻ khác thành quà tặng cho mình. Người lính nói: - Bao năm rồi tôi nhìn mây biết giớ nhìn cỏ biết mưa, cả cánh buồm cũng giúp tôi chạy thóc và nhà trước khi cơn giông đến. Gió đấy, cỏ ấy và cánh chuồn mau mắn ấy có giúo gì tôi ở biển? Biển nói: - Đó là những đồng tiền để tiêu trên mặt đất. Người lính nói: - Bao vốn liếng cả một đời góp nhặt. Bước xuống tàu bỗng thành kẻ tay không. Biển nói: - Những chiếc huân chương còn soi sáng trên bờ Sống với nước hãy bắt đầu từ nước. Người lính nói: - Xin tạm biệt những dây hòm dây cóc day mai
Đến thay đôi thiếu đứt
Giúp ta xong buổi cày
Xin tạm biệt những củ nâu me mệt ngủ
Chín dần bên dấu chân voi.
Xin tạm biệt những buổi trưa bát vỡ những buổi tối hết dầu những ban mai thổi lửa.
Tạm biệt em, nỗi éo le của anh, dang dở của anh, cay đắng của anh; tạm biệt cơn khát tình vằng vặc.
Em đã đến thở than trên sáo trúc
Xua đêm đi thành mộng mị đời anh...
Lời sóng I
Những người lính ra đảo/Có dòng sông đồng hành/Năm dài và đất rộng/Vui buồn sau chiến tranh/Có người lính xây thành/Lẫn vào lau biên ải/Có bao người con gái/Đến thăm nàng Vọng Phu../.Biển thành nắng thành mưa/ Của đất liền vòi vọi/ Biển thành đêm thành ngày/ Nồng nàn trên gối cưới/ Em muốn đem tóc xanh/ Buộc trời cho đỡ bão/ Em muốn gửi tròn tay/ Gối mềm trên cát đảo…” (hết trích)
Giả sử như năm chương sau của “Trường ca Biển”, Hữu Thỉnh viết thật hay, thì cũng không cứu nổi trường ca này rơi xuống biển nhạt nhẽo mất tăm vì toàn chương một là những con sâu lớn làm rầu nồi canh mất rồi.
Chẳng lẽ, chúng tôi phải in lại toàn bộ “Trường ca biển” trong bài viết này để tra tấn bạn đọc, đành phải trích thêm một đoạn khá nhất của chương hai có tên là “ Cát” để các vị trong các hội đồng xét giải thưởng dùng con mắt xanh chỉ cho chúng tôi xem đoạn trích dưới đây thơ nằm ở đâu, nghệ thuật nằm ở đâu, xúc động nằm ở đâu? Xin trích:
“…
Cát ở đây là lối đi
Cát là chỗ ăn cơm chiêu ngụm nước
Cát là giường nằm gối đầu lên cát
Cát theo lá thư đồng đội gửi về
Cát ở đây là tất cả
Cát là tiền duyên cát là điểm tựa
Nơi chạm súng đầu tiên chốt cặn sau cùng
Sống cát là bệ tì
Chết cát là hoa tươi và nước mắt
Sống cát là màu che mắt địch
Chết cát là màu tang
Không có chỗ nào không có cát
Không có điều gì không có cát
Cúng tôi bắt đầu ngả bóng của mình lên
Bóng ngả về Đông về Tây về Nam về Bắc
Bóng chúng tôi nóng lên dưới cát
Bóng chúng tôi che lên Đất Nước
Giữ nguyên lời dặn của ông bà
Chúng tôi vốc cát lên
Chúng tôi nghe cát nói
Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa
*
- Cấm đi câu đi tắm một mình
Xuống nước phải mang theo dao găm
Lũ cá he hay bổ từ trên xuống
- Cấm bơi xa miệng vực
Ở đấy nhiều sóng ngầm nhiều cá mực
Và nếu chẳng may
Nhất thiết phải bơi đứng
Cá mập không quen săn mồi thẳng
- Không được lệnh quân y
Cấm ăn một thứ lạ
Những mệnh lệnh lạnh lùng
Chúng tôi học từ máu người đi trước
Chúng tôi học để làm quen và đứng vững
Để có thể nói rằng tôi đang ở Trường Sa.
Tôi đang ở Trường Sa
Trong đội hình Song Tử Đông, Song Tử Tây, An Bang, Nam Yết
Kết bạn với vô cùng
Đảo rập rờn chìm nổi những quả cân
Cân người lính và hiểm nguy đời lính
Bạn tôi đang thổi sáo sau hầm
Bỗng ngừng bặt
Giữa chừng réo rắt
Chúng tôi chạy ra
Chấp chới cánh tay ngoài năm sải nước
Tiểu đội xếp hàng chuyển gạo
Sóng lườn quanh thân
Bỗng
Một tiếng thét
Một vũng máu
Một khoảng trống
Tôi gào lên
Im ắng rợn người
Tìm qua sóng
Gặp đàn cá mập
Rong rêu nhiều
Mà mất bạn
Bạn ơi!
Hôm đó đảo có thêm gạo mới
Chúng tôi đầu bỏ cơm
Hôm đó đất liền ra thư
Chúng tôi bỏ thư ôm nhau khóc
Gạo chiều nay thành cơn cúng đưa tang
Thư chiều nay viết thêm vào lời điếu
Ngày mai lại có đoàn văn công
Em hãy đến
Ngổn ngang
Cùng im lặng!
(hết trích)
Hầu hết những cái gọi là câu thơ trên đều chỉ là những câu nói dẫn chuyện (tự sự) năng xuống dòng mà thành. Đã nhiều lần chúng tôi cho rằng, trong thơ có nói, nhưng chỉ là những câu nói thông thường năng xuống dòng thì dứt khoát không phải là thơ.
Xin trích thêm một đoạn gọi là “thơ toàn nói” của Hữu Thỉnh trong chương ba có tên “Tự thuật của người lính”, như sau:
“… Tôi được ăn bữa no đầu tiên
Cha phá kho thóc Nhật
Dòng khẩu hiệu trên nong nia thúng mẹt
Năm làng tôi đi cướp quyền
Tôi nhập tâm những chữ cái đầu tiên
Ngồi tránh đạn trong chiếc hầm thước thợ
Tôi còn dễ mất hơn
Hòn cuội trắng trong chiếc bao diêm nhõ
Một đứa trẻ bị bỏ quên và dễ vỡ
Vẫn bị rầy vì cài cúc so le
Tôi đã lớn để trở thành người lính
Thọc đôi tay vào chiếc túi của rừng
Chiến công đôi khi là tìm ra một thứ gì ăn được
Để có giấc ngủ yên mười lăm hai mươi phút
Chúng tôi đào hầm hì hục suốt đêm
Đã đem theo những căn nhà mái thấp
Đường vào Nam mưa mỗi lúa mỗi to
Đã giấu mình trong lá lau lá chít
Đã nấu nung để chớp giật không ngờ
Chúng tôi chưa bao giờ yên tĩnh
Đi như song hiếu động như rừng
Đã để lại thảnh thơi cho cỏ
Và nhận về giông bão trên lưng
Đã khắc vào cây để nhớ một ngày
Để nhớ một người để thương đất nước
Đã để ít đời mình nơi ngã ba khốc liệt
Đã bông đùa xen kẽ với bom rơi
Tôi đã ăn những quả cà kho mặn
Hái trong vườn có nắng xiên quai
Có chú ve sầu làm tổ gốc cây
Kêu sốt ruột những ngày tôi đi vắng
Cố nhóm lửa lại vội vàng qiấu khói
Cơm chín rồi cứ ngân ngấn thương nhau
Tiếng nai tác đi ăn than ngoài rẫy
Sao ta hoài thắc thỏm đâu đâu
Sao hay nhớ hay thương va hay vấp
Bước say mê trên sông núi hữu tình
Chiếc lá mở trước của hầm thân mật
Thưa của trời súc tích chỉ màu xanh
Tôi đeo quanh cây của đất nước mình
Làm chùm quả dưới vòm trời nhiệt đới
Những chùm quả có nắng vào làm lõi
Cứ ngày ngày thơm thảo với quê hương
(hết trích)
Câu gọi là thơ nôm na hơn cả câu nói đời thường kiểu: “Đường vào Nam mưa mỗi lúc mỗi to”…là dáng tiêu biểu những “câu thơ toàn nói” của Hữu Thỉnh trong “Trường ca biển”
Xin trích thêm một đoạn trong chương năm:
“Cho những buổi trưa đàn trâu mộng dầm mình trong nước sánh. Cho bên lở bên bồi tạo hóa buộc lòng bất công dằng dặc. Cho lóng một lóng đôi rổ rá giần sàng, che chắn gió biến thành kẻ ăn người ở.
Cho bên ấy bên này diệu vợi, cả tiếng gọi đò cũng là quà tặng của dòng sông
Khi gặp biển đó là lúc sông đem cho lần cuối, một cuộc cho trọn vẹn huy hoàng như thơ cho, như mùa dâng quả, cô gái biến thành nàng dâu để lại sau lưng bao tiếng thở dài. Và khi không còn gì để cho, sông như tráng sĩ không còn vũ khí, giáo chủ không còn mật kinh, võ sư không còn bí quyết; sông như nghệ sĩ đã nắm xong vai, một kẻ trắng tay giàu có đo mình bằng kích thước của biển.
Đức hạnh của sông là đa mang
Dung nhan của biển là bình thản
Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo
Nỗi khổ của biển là sở hữu không cùng
Sông - những cây nước khổng lồ
Bóng mát mệt mê mang mang bồi đắp
Sông góp củi cho nồi cơm lớn
Lòng vị tha là người khách sau cùng
Dưới đáy biển
Sông lang thang tìm lại các dòng sông
Trên mặt sóng
Đảo đang vào mùa nắng
*
Sông đi sông đi vờ vật sông đi
Tìm lại mình trong biển
Biển nói bằng muối chát
Sông không nghe được gì
Thỉnh thoảng lại tụng lên vài trận bão
Vò mây chơi
Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp
Tuột khỏi vòng luân hồi
Cá chớp mắt; Ta lên thăm lính đảo
Xem đời có gì vui"
( hết trích)
Hữu Thỉnh ưa triết lý, mà hầu như toàn triết lý sống sượng, buồn cười, ví dụ :
“Đức hạnh của sông là đa mang
Dung nhan của biển là bình thản
Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo
Nỗi khổ của biển là sở hữu khôn cùng”
Bốn câu gọi là thơ này của Hữu Thỉnh nếu đem đi dự thi báo “Tuổi Trẻ Cười” chắc sẽ được giải cao.
Triết lý như những “câu thơ” này của Hữu Thỉnh còn chết cười hơn nữa :
“Sông đi sông đi vờ vật sông đi
Tìm lại mình trong biển
Biển nói bằng muối chát
Sông không nghe được gì
Thỉnh thoảng lại tụng lên vài trận bão
Vò mây chơi
Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp
Tuột khỏi vòng luân hồi
Cá chớp mắt; Ta lên thăm lính đảo
Xem đời có gì vui”
Hữu Thỉnh quả là có óc hài hước, có tài về thơ chọc cười ngay trong khi chơi thơ trữ tình quả là xưa nay hiếm có.
Thường trong “Trường ca biển”, Hữu Thỉnh hay triết lý rất ngô nghê, dông dài, lẩm cẩm, buồn cười, như sau:
“Dưới bầu trời khắc nghiệt của chiến tranh
Tôi ít nói nhường lời cho súng nổ
Chính khẩu súng cũng giúp tôi gạt bỏ
Tính hiếu kỳ như một sự trớ trêu”
Có khi Hữu Thỉnh “triết lý” rất chi là bí hiểm, y như đánh đố, sao lại:
“Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống không phải mẹ”…
“thế lày nà thế lào” thưa nhà thơ Hữu Thỉnh? Xin trích cả đoạn này, để quý độc giả suy luận, khỏi mang tiếng cắt xén:
“Mẹ ơi, khi con đau đớn nhận ra cái ác là vô cùng
Cũng là lúc con nhận ra sự hữu hạn của lòng tốt
Mảnh ván con bơi là lòng tốt cuối cùng
Trên thế gian đầy bất trắc
Ngày thứ tư con "đi" trên biển
Bằng đôi tay của mình
Số phận biến con thành một chú bọ gậy ngang tàng
Không chịu chết vì chán nản
Và khi cả người con dán chặt vào đất
Như một - con - tem - người
Dán vào dòng đời
Con bỗng nhận ra không phải lá cờ ta
Không phải mẹ
Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống không phải mẹ”
(hết trích)
Nói cho công bằng, trong “Trường ca biển” nếu chịu khó đãi cát tìm vàng, vẫn có thể tìm thấy một vài đoạn thơ khá, ví dụ:
“Đom đóm ơi đom đóm dẫn đi đâu
Đêm là tàu lá sen che nửa phần trái đất
Ấy là lúc những vì sao xa lắc
Nối với tôi qua một sợi dây diều”
Và câu hay
“Ngày anh về
Lúa đồng cúi hạt”
Nhưng những câu hay, câu khá như trên quả là hiếm hoi trong thi phẩm này của Hữu Thỉnh.
Trong “Trường ca biển”, ta bắt gặp lối viết, cách nói phúng chỉ, ví von thẽo thọt, tủi phận …lặp lại từ các tập thơ trước của chính tác giả, ví dụ:
“Đời bao nhiêu trớ trêu mà đêm còn quá rộng/Đêm như là vắt kiệt các vì sao”, “Đồng vắt kiệt nằm than trong gió bấc”, “Không không mẹ dặn tôi không/Ngọt chả sợ đường đường không sợ lội”, “Chim ngói cả tin mắc lồng oan nghiệt/Ngọn tơ hồng chết nghẹn giữa bòng bong”…. Hoặc một câu lục bát thất vận: “Cầu vồng xanh đỏ tím vàng/ Chim cu toan đổi chuỗi cườm trời cho”…
Nói tóm lại “Trường ca biển” là một thi phẩm làng nhàng, nhạt nhẽo, thiếu hẳn giá trị nghệ thuật vì tác giả viết bằng sự khéo tay, thiếu xúc cảm, thiếu một trái tim chân thành của một thi sĩ đúng nghĩa. Chẳng lẽ người ta lại đi tôn vinh hai tác phẩm dở tệ này của Hữu Thỉnh là “Trường ca biển” và “Thương lượng với thời gian” bằng giải thưởng Hồ Chí Minh, để tìm cách hạ thấp giá trị của giải thưởng này đến mức không còn từ gì để nói thế này ư?
Sài Gòn ngày 01-9-2011
T.M.H.
Tác giả gửi trực tiếp từ Sài Gòn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét