Nhãn

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Nhân vụ luận văn của Nhã Thuyên, thử bàn một chút về sự tương tác giữa chính trị và khoa học


Nhân vụ luận văn của Nhã Thuyên, thử bàn một chút về sự tương tác giữa chính trị và khoa học

Nguyễn Thế Duyên


Điều trước tiên phải nói ngay là tôi  không thích  mà thậm chí còn rất dị ứng với thơ của nhóm mở miệng. Với tôi đấy không phải là thơ và nó không đáng để cho ta phải phí thời gian và công sức để đọc nó.
Nhưng!
Cho dù là  không thích, tôi vẫn cứ phải thừa nhận rằng : “Nhóm mở miệng đã tồn tại, đang tồn tại và sẽ còn tồn tại cho đến khi nào những nguyên nhân tạo ra nó mất đi, bất chấp sự phản ứng gay gắt của một bộ phận khá đông đảo người đọc. Thậm chí bất chấp cả sự truy bức của chính quyền” Và còn một điều này nữa : Số người theo phong cách của nhóm mở miệng đang gia tăng từng ngày.
Tại sao vậy?  Câu hỏi này dành cho những nhà khoa học về xã hội và nhân văn và có một người có lẽ đã trả lời được một phần của câu hỏi này . Đó chính là Nhã Thuyên. Tại sao tôi lại nói là có lẽ ? Vì rằng mặc dù tôi đã rất cố gắng nhưng tôi vẫn không sao có được bản luận văn về nhóm “Mở miệng” khi tra nó trên google. Tôi chỉ biết nội dung của nó  qua nhưng bài viết phê phán cũng như bảo vệ luận văn này.
Cũng cần phải nói ngay rằng : “ Bản luận văn này không phải là một tác phẩm văn học. Nó là một công trình nghiên cứu khoa học”.
Nhiệm vụ của khoa học là gì? Nhiệm vụ của khoa học là  nghiên cứu các quy luật vận động của vật chất (Đối với khoa học tự nhiên) và quy luật vận động của xã hội( Đối với khoa học xã hội và nhân văn) . Những quy luật vận động này là một tồn tại khách quan nằm ngoài ý chí của con người. Nó đã nằm ngoài ý chí của con người thì làm sao có cái khoa học “Nằm trong chính trị” như  một số ngài Giáo sư đã lớn tiếng dạy dỗ trong các bài phê phán luận văn này được? Đọc những lời của các vị tiến sỹ ấy tôi lại nhớ đến phiên tòa xử án của giáo hội thời trung cổ khi buộc Ga li lê phải thừa nhận mặt trời quay quanh trái đất . Một phiên tòa điển hình cho cái gọi là “Khoa học nằm trong chính trị”.

Cần phải khẳng định ngay là “Khoa học nằm ngoài chính trị”  vì chỉ khi đó nó mới nghiên cứu được “ Những quy luật vận động khách quan” còn khi phải nằm trong chính trị  thì khi đó sự vận động ấy trở thành sự vận động theo “Chủ quan của chính trị” và những nghiên cứu ấy chỉ dẫn đến một tất yếu sai lầm và nếu sử dụng những kết quả nghiên cứu ấy vào trong chính sách của nhà nước thì quả thật là một thảm họa.
Ôi xin lấy hai ví dụ minh họa cho điều này. Một ở nước ngoài và một ở trong nước ta.
Ví dụ 1- ở Liên xô  trước kia trong lúc cả thế giới thừa nhận thuyết di truyền của Men Đen trong sinh học thì nước Nga Xô viết   lại chỉ công nhận học thuyết của một ông thợ làm vườn Mit su rin  và kết quả là , tại thời điểm đó, dù trong các lĩnh vực khác  có những lĩnh vực Liên xô vượt xa các nước châu Âu và Mĩ (Thí dụ thám hiểm vũ trụ) nhưng về sinh học và nông nghiệp Liên xô chậm sau các nước phương tây vài chục năm. Và rồi cuối cùng “Sự vận động khách quan” đã chiến thắng “Ý chí chính trị”  Liên xô đã công nhận học thuyết của Men đen và bộ trưởng nông nghiệp  Lư sen cô mất chức
Ví dụ 2- Ở Việt Nam
Đó chính là khoán 10.  Khi Kim Ngọc đưa ra mô hình khoán ruộng đất đến người lao động ông đã bị tổng bí thư Trường chinh, một nhà lý luận gạo cội của Đảng, cho lên bờ xuống ruộng  chỉ vì nó trái với  “ Quy luật vận động theo chính trị” của chủ nghĩa Mác Lê nin. Nhưng rồi lại một lần nữa “Quy luật vận động khách quan”  đã chiến thắng và chỉ trong một thời gian ngắn chúng ta đã làm nên được một kì tích Trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới.
Từ các ví dụ trên cho ta thấy rằng Nếu khoa “Nằm trong chính tri”, Nó sẽ làm khoa học bị biến dạng  và sẽ không còn là khoa học nữa mà trở thành điều mà đúng như các ông vẫn hoảng sợ gào lên khi phê phán cái luận văn này “Giả khoa học”.
Khoa học là một tia sáng trắng.Nó chỉ đi theo đường thẳng trong một môi trường trong suốt còn nếu như nó phải đi qua một lăng kính thì nó sẽ bị khúc xạ không còn thẳng nữa. Mà cái lăng kính chính trị lại là một cái lăng kính đặc biệt. Nó có thể uốn cong tất cả mọi thứ trên đời.
Quay lại với bản luận văn, tôi xin nhắc lại một lần nữa là tôi không thể tìm được bản luận văn này trên mạng nên không thể phân tích cái sai, cái đúng  một cách chi tiết của bản luận văn được nhưng  thông qua những bài phê phán bản luận văn thì tôi hiểu vấn đề như sau.
Thứ nhất—Bản luận văn dựa vào một lý thuyết của nước ngoài, trung tâm và ngoại biên để đưa ra một nhận định.
Mở miệng đại diện cho một bộ phận ngoại biên  cất lên tiếng nói phản kháng  với những cái xưa cũ, trì trệ, bế tắc , sáo mòn trong văn học và trong đời sống xã hội.
Nhận định này là đúng hay sai?
Tôi cho là đúng!
Thực ra cái ranh giới của trung tâm và ngoại biên là hơi mơ hồ. Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhà phê bình Trần Đình Sử đã nói  nhưng ranh giới này phụ thuộc rất lớn vào “Ý chí chính trị” Của các nhà lãnh đạo. Vì vậy cái trung tâm có thể biến thành ngoại biên bất cứ lúc nào. Có lẽ Nhã Thuyên muốn “Tây hóa” bản luận văn của mình nên cô dùng đến cái lý thuyết này.  Thực ra Việt Nam ta có một khái niệm rất gần với lý thuyết này nhưng ranh giới của nó lại rất rõ ràng đó là “Chính thống và phi chính thống”.
Dòng văn học chính thống là dòng văn học được chính quyền ủng hộ. Tại sao nó được chính quyền ủng hộ? Vì nó ủng hộ chính quyền. Còn dòng văn học phi chính thống thì ngược lại . Nó phản kháng lại chính quyền hiện tại và vì vậy nó không được chính quyền ủng hộ.
Hai dòng văn học này luôn luôn tồn tại song hành ở mọi thời điểm, ở mọi quốc gia chẳng phải chỉ ở Việt Nam mới có. Điều này là rất bình thường và là một sự tồn tại khách quan vì rằng không có bất cứ một thể chế chính trị nào có thể làm vừa lòng tất cả mọi bộ phận người dân và cái bộ phận không vừa lòng ấy luôn luôn cất tiếng nó phản kháng  của nó  bằng  văn chương. Chỉ có điều chính quyền có công nhận cái tiếng nói phản kháng ấy hay không mà thôi.
Dòng văn học hiện thực phê phán về bản chất nó chính là vùng “ Ngoại biên” cất lên tiếng nói phản kháng. Nhưng nó lại được nhà nước bảo hộ thừa nhận.
Truyện tiếu lâm, truyện trạng quỳnh  chẳng phải là tiếng nói phản kháng của người dân với chế độ đương thời hay sao? Và! Nổi bật hơn hết chính là  Hồ Xuân Hương ,một tiếng nói phản kháng mạnh mẽ nhất  và cũng là tiếng nói phản kháng được chúng ta nghiên cứu nhiều nhất.
Có một câu hỏi đặt ra là: Tại sao những tiếng nói phản kháng phi chính thống chỉ trích các chế độ ngày xưa thì chúng ta nghiên cứu một cách rất cẩn thận còn tiếng nói phản kháng chỉ trích chính chúng ta thì chúng ta lại cố tình lờ đi làm như là nó không tồn tại?
Lẽ ra chúng ta phải làm ngược lại. Những tiếng nói chỉ trích chúng ta chúng ta phải nghiên cứu thật cẩn thận. Nguyên nhân phát sinh? Đặc điểm ? Tầng lớp tham gia ? vị trí và sự ảnh hưởng của nó trong nền văn học đương đại?  và cuối cùng là câu hỏi làm thế nào để dập tắt đi những tiếng nói phản kháng ấy? bởi vì dù có nói ra hay không thì không một thể chế chính trị nào lại  muốn tiếng nói phản khảng mình được ngày càng đông đảo người dân ủng hộ.
Vì không có toàn bộ bản luận văn của Nhã thuyên trong tay nên tôi không thể biết bản luận văn có trả lời được tất cả những câu hỏi đó hay không. Nhưng thông qua các bài phê phán bản luận văn thì tôi thấy bản luận văn đã ít nhất trả lời được bốn trong năm câu hỏi nêu trên.
1-Nguyên nhân phát sinh—sự trì trệ, cùn mòn của nên văn học đương đại, sự mất dân chủ trong sinh họat xã hội  và cuối cùng là những vấn đề tồn tại trong việc xuất bản.
2—Đặc điểm –dùng cái dung tục .Sử dụng lối nói lái, nói nhại làm vũ khí.
3—Tầng lớp  tham gia –Những thanh niên trí thức trẻ.
4—Vị trí của nhóm mở miệng trong nền văn học đương đại –Có ảnh hưởng không nhỏ trong dòng thơ hậu hiện đại đang thịnh hành.
Tôi không biết Nhã thuyên có trả lời được câu hỏi thứ năm không. Nếu trả lời được thì bản luận văn được điểm mười là xứng đáng còn nếu không trả lời được câu hỏi thứ năm thì bản luận văn được điểm mười quả có hơi “Hào phóng” như một ông “Giáo sư “ Đã nhận xét. Cùng lắm bản luận văn chỉ đáng được điểm 8.
Người ta trả lời được bốn câu hỏi khá lớn mà các vị còn bảo “Bản luận văn  không có tính khoa học”.
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, chúng ta ít nhất đã có ba lần phong trào phản kháng (Tôi nói phong trào chứ không nói đến những cá nhân đơn lẻ) cất lên trong văn học. Lần đầu tiên đó chính là  phong trào Nhân văn giai phẩm. Chúng ta đã dập tắt tiếng nói phản kháng này bằng công cụ chuyên chính vô sản nhưng rất tiếc sau mấy chục năm, tuy không chính thức, ta lại phải thừa nhận nó bằng cách trao giải thưởng văn học cho chính những tác giả mà ta đã từng chối bỏ. Lần thứ hai xuất hiện từ sau năm 1975 đến trước thời kì đổi mới. Một phong trào tiếu lâm chính trị  trải rộng suốt từ Bắc chí Nam và kéo dài suốt hơn một chục năm mà nguyên nhân là sự đói kém đến cùng cực, hậu quả của một chính sách kinh tế sai lầm. Lần này chúng ta không có cách nào dập tắt được. Nó chỉ tự biến mất khi nguyên nhân tạo ra nó, sự đói khổ cùng cực,  mất đi do chính sách đổi mới của Đảng. Và lần này là nhóm mở miệng. Có một sự tương đồng giữa nhân văn giai phẩm và nhóm mở miệng đó là họ đều là những người trí thức ,họ không “Khuyết danh” và cuối cùng đó là nguyên nhân dẫn đến tiếng nói phản kháng của họ là tương đối giống nhau. Họ chỉ khác nhau ở một điểm duy nhất đó là vũ khí dùng để phản kháng.
Tôi không bênh vực nhóm mở miệng mà tôi còn dị ứng với cách viết của họ nhưng tôi bênh vực Nhã thuyên với tư cách là một người nghiên cứu khoa học vì vậy tôi buộc lòng phải phân tích một chút về cái vũ khí mà nhóm mở miệng đang dùng.
Chửi! đó là một đặc trưng văn hóa của người việt.  Các ngài giáo sư khi phê phán bản luận văn này có một nhầm lẫn hết sức tai hại . Các vị ấy cho rằng văn hóa  phải là những cái đẹp, có tính mà theo ngôn từ của các vị đó là “Mỹ học” . Sai! Văn hóa  là những đặc điểm riêng mà chỉ có ở một dân tộc, hay một bộ phận cư dân duy nhất có. Nó chẳng liên quan gì đến cái từ to tát “Mĩ học” mà các vị giáo sư mang ra làm con ngáo  ộp để đe dọa mọi người.  Những phong tục tập quán đó có thể là không “Mỹ học” nhưng nó gắn liền với lịch sử hình thành hoặc niềm tin tôn giáo của dân tộc đó.Trong những đặc điểm riêng đó cái nào có thể gắn hai từ “Mĩ học” Vào thì đó là điều quá tốt còn cái nào không gắn nổi hai từ “Mĩ học” thì không phải vì thế mà ta bảo nó không phải là “Đặc trưng văn hóa”. Với cách nhìn nhận như thế thì chửi là một đặc trưng văn hóa của riêng người việt . Nó chủ yếu  là cách phản kháng của người yếu đối với kẻ mạnh. Độ tục của câu chửi là thước đo của sự phản kháng. Sự uất ức càng lớn thì câu chửi càng tục.  Và khi chửi thì người Việt thường mang kẻ mạnh ví với những cái ( theo cách nghĩ của người Việt) nhơ bẩn  nhất như (Xin lỗi mọi người) Lồn, buồi, cứt, đái. Truyện tiếu lâm của chúng ta cũng sử dụng phương pháp này và đặc biệt Hồ xuân hương đã sử dụng phương pháp này đến cái độ “Mỹ học”. Nhưng khác với truyện tiếu lâm hay hay Hồ xuân hương , nhóm mở miệng dùng cách này với  một cường độ bạo liệt nó rất gần gũi với cách chửi thô tục ngoài cuộc đời. Chính vì điều này mà Nhã thuyên đã đi đến kết luận
 “chối bỏ quyết liệt”, “lên tiếng đòi phá nốt những thành trì kiên cố của sự chuyên chế, khi niềm tin vào chế độ và sự tự do đang có nguy cơ tan rã” “
Cái kết luận này là rất đúng đắn vì như tôi đã nói đọ tục của câu chửi là thuốc đo sự uất ức của kẻ yếu đối với kẻ mạnh.  Chỉ có điều ông giáo sư  đã cố tình lập lờ . Đây là nhóm mở miệng “Chối bỏ quyết liệt” chứ đâu phải là cô thạc sỹ Nhã Thuyên “ Chối bỏ quyết liệt”  mà lại đòi xét lại bản luận văn? Vì tư tưởng chính trị?
Vị giáo sư này còn viết
Trong khoa học xã hội và nhân văn, có khi chỉ có thể nghiên cứu đối tượng trong độ lùi cần thiết của lịch sử, khi sự việc, hiện tượng đã an bài, xong xuôi, người nghiên cứu đã có đủ tư liệu chính xác để nhìn nhận thỏa đáng các khía cạnh của vấn đề.
Đây không phải  là tư duy của một nhà khoa học. Đây là tư duy của một kẻ cơ hội trong khoa học.
Một trong những  giá trị cao nhất khiến cho loài người phải bỏ bao tiền của, công sức vào cho khoa học đó chính là tính tiên đoán và dự báo. Giá trị của khoa học nằm ở chỗ đó. Nó giúp cho các nhà hoạch định chính sách tránh đuộc những sai lầm. Gúp cho loài người tránh đuộc những thảm họa có thể hoặc sắp xẩy ra. Kể cả những bộ môn khoa học chỉ chuyên nghiên cứu về quá khứ như khảo cổ cũng phải có  đặc tính này. Hóa ra ngài giáo sư này chỉ chuyên nghiên cứu nhữn cái đã hai năm rõ mười, ai cũng biết. Vậy xin hỏi cái nghiên cứu ấy dùng để làm gì? Chẳng làm gì cả! Nó chỉ là những tờ “Giấy vụn” . Hay các ngài ấy có cổ phần trong nhà xuất bản “Giấy vụn “Của Bùi Chát và Lý Đợi?
Ở các nước tiên tiến nhà nước thường đặt hàng cho các trường đại học và các học viện nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến những chính sách sắp ban hành.Có nghĩa là điều ấy chưa hề xẩy ra đã phải nghiên cứu rồi vì giá trị tiên đoán và dự báo của khoa học. Còn với vị giáo sư này thì…..
Nói như vị giáo sư này thì ông Mác phải đợi đến bao giờ mới nghiên cứu nổi lý thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học?  Một nền tảng của Đảng ta? Chủ nghĩa này đến bây giờ con người vẫn chưa đạt đến
Ông ta còn viết2.
Việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu cùng với các dữ kiện nghiên cứu phải đáng tin cậy và hợp hiến
Với hai từ “Hợp hiến” Không biết ông giáo sư này muốn nói điều gì? Phải chăng ông muốn nói có những điều không đuộc phép  nghiên cứu cho dù nó đang tồn tại? Hay nói khác đi ông muốn đặt khoa học nằm trong lòng chính trị?
Đúng là tư duy của một kẻ cơ hội. Phải khẳng định rằng không có bất cứ một giới hạn nào cho nghiên cứu khoa học. Khoa học có thể nghiên cứu từ những thứ không tưởng nhất như hố đen đến những thứ nhỏ nhặt nhất như con kiến. Trong khoa học xã hội và nhân văn những chủ nghĩa phản động nhất như chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc hay nhưng lí thuyết cực kì vô nhân tính như thuyết nhân mãn chúng ta đều phải nghiên cứu đầy đủ nhằn tránh cho loài người dẫm vào vết xe đổ của quá khứ. Vậy tại sao một tiếng nói phản kháng đã đang và sẽ tiếp tục phát triển lại không đuộc nghiên cứu?
Nhà nước quản lý khoa học bằng kế hoạch,  dựa vào nhu cầu cấp thiết hay chưa cấp thiết mà cuộc sống đòi hỏi mà định ra cái nghiên cứu nào nên làm trước, cái nghiên cứu nào nên làm sau để rót ngân sách chứ không thể quản lý khoa học bằng cái các ông vẫn gọi “Tư tưởng chính trị”
Khoa học nghiên cứu các quy luật vận động khách quan và chính trị áp dụng những kết quả nhiên cứu ấy vào các chính sách của mính để những chính sách đề ra đúng với quy luật vì vậy chỉ có “Những đường lối chính sách của nhà nước được soi rọi dưới ánh sáng của khoa học” Chứ không thể có cái điều nguộc lại như các ông giáo sư vẫn nghĩ
 “Các nghiên cứu khoa học đuộc chỉ đạo bằng các tư tưởng chính trj”.
 “Lãnh đạo” Theo tiếng hán việt có nghĩa đen là tìm ra,đưa ra vậy thì xin hỏi các ông Chính trị lãnh đạo khoa học hay khoa học lãnh đạo chính trị?
Những đường lối lãnh đạo phi khoa học chỉ theo ý chí cá nhân hay ta vẫn gọi khác đi là duy ý chí, chính là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sao đến tận bây giờ mà mấy ông tiến sỹ vẫn chưa nhìn ra?
Ngày xưa mấy nhà lý luận các ông xúm vào đánh nhân văn giai phẩm với chiêu bài phi chính trị , tuy là sai lầm những kể ra thì vẫn còn có cái để bao biện được vì dù sao văn học vẫn có một thuộc tính đó là tuyên truyền. Nhưng lần này mấy ông định mang chiêu bài này để đánh khoa học thì lại là điều không thể chấp nhận. Tôi nói lại một lần nữa : Bản luận văn này không phải là một tác phẩm văn chương. Nó là một đề tài khoa học.  Có thể sai! Có thể đúng về mặt lý luận nhưng không thể là sai hay đúng theo cái các ông gọi “Tư tưởng chính trị”. Mà một nghiên cứu khoa học thì sai đúng đó là chuyện bình thường sao có thể cách chức , cắt hợp đồng với người hướng dẫn và với Nhã thuyên?
Với cách hành xử như vậy liệu còn ai dám nghiên cứu khoa học xã hội một cách trung thực? mà nghiên cứu khoa học xã hội không trung thực thì Đảng dựa vào đâu để đưa ra những đường lối chính sách của mình? Cái chính sách “Cộng hai điểm cho bà mẹ Việt Nam  anh hùng” đó chính là kết quả của cái tư duy “Khoa học trong chính trị” của các ông. Nó quá đúng! Quá chính trị! Quá nhân văn. Nhưng! Lại vô tích sự .
Tôi đọc hồi kí của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh ông ta có than thở rằng môn ngữ văn quá  thiếu đề tài nghiên cứu. Quanh đi Nam Cao, quẩn lại lại Chí phèo thế cho nên một thằng cha lưu manh vô học lại đẻ ra được đến hơn trăm ông tiến sỹ (Chỉ tính riêng trường đại học sư phạm đã có đến bốn mươi luận văn tiến sỹ về Nam Cao ) Thật là chuyện cười ra nước mắt.
Tôi nghĩ : Thực ra chẳng thiếu đề tài đâu nhưng với cái tư tưởng “Chính trị” Và “Cơ hội” như của các ông thì  những đề tài như “Nền văn học hiện thực phê phán đã đẻ ra Nam cao ông tổ của các tiến sỹ đương đại vậy tại sao nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa của chúng ta lại không thể sinh ra đuộc một nhà văn bằng một nửa Nam cao? Cái gì tạo ra điều đó?”
Hay
Nền văn học chiến tranh cách mạng đã tương xứng chưa với xương máu của hơn ba triệu con người đã ngã xuống. So với nền văn học chiến tranh vệ quốc củaL iên xô xưa nền văn học chiến tranh cách mạng của chúng ta như thế nào?
Hay
Đạo đức xã hội xuống cấp một cách thê thảm. Văn hóa đọc đang dần biến mất. Tại sao? Và văn học chịu trách nhiệm đến đâu với tình trạng đó?
Những đề tài như thế đang rất cần những nhà khoa học nghiên cứu nhưng ! Chỉ với một bản luận văn đề cập đến một nhóm thơ nhỏ xíu mà các ông đã quy chụp thành “Phản động” Kích động lật đổ “ Thì những vấn đề rất lớn của xã hội liệu ai còn dám nghiên cứu một cách thật sự để đưa ra những quy luật vận động một cách khách quan thật sự giúp Đảng và nhà nước đưa ra đuộc những chính sách đúng đắn đưa đất nước tiến lên?
Nguyễn Đăng Mạnh có nói đại ý  là thời thơ mới có hàng trăm nhà thơ mà chỉ có mỗi một Hoài Thanh nên ông rút ra kết luận “Phê bình văn học là một nghề khó”
Điều này chỉ đúng một nửa. Khó! Khan hiếm chỉ với những nhà phê bình thật sự tài năng, thật sự tâm huyết với nền văn học. Còn những nhà phê bình như các ông thì không hiếm mà còn quá nhiều là đằng khác. Thử hỏi hiện nay có bao nhiêu nhà thơ thực sự? Chắc chỉ dăm ba người?  nhưng có bao nhiêu ông “Giáo sư tiến sỹ phê bình và lý luận văn học”? Chắc cungx phải vài chục.  Nguyễn Đăng Mạnh đã sai. Phải nói rằng “ Những kẻ muốn vào làng văn nhưng không viết được thì đi làm phê bình văn học”.
Sự dung tục đang lan vào trong văn học một cách mạnh mẽ không thể nào cưỡng lại. Những tác phẩm như Hoan ca , Dị hương mà hội nhà văn vừa trao giải về bản chất nó cũng là một tiếng nói phản kháng với cái sáo mòn, cũ kĩ hiện nay của văn chương, một mong muốn đòi hỏi sự cách tân đổi mới cho văn học đâu chỉ riêng có mở miệng. Chỉ có điều nhóm mở miệng dung tục đến cái mức quyết liệt hơn, điển hình hơn. Mà trong nghiên cứu khoa học thì phải bắt đầu nghiên cứu từ cái điển hình từ đó suy ra những hiện tượng ít điển hình hơn thì các ông lại cho là “Cổ vũ” kích động lật đổ”. Nếu tác giả  định “ Kích độnglật đổ” hay “Cổ súy” nhóm mở miệng thì tác giả của nó đã tung bản luận văn này lên mạng từ lâu rồi. Tôi không tìm thấy bản luận văn trên mạng chứng tỏ Nhã Thuyên là một người nghiêm túc. Nhận định khác với cổ súy. Trong nhiên cứu khoa học tất phải đưa ra các nhận định.Nhưng nhận định khác với cổ súy. Đã ba năm nay, không ai biết đến bản luận văn này trừ một vài người trong hội đồng khoa học trường đại học sư phạm. Nhưng nay thì nhờ các ông mà ai cũng biết đến nhóm mở miệng, và ai cũng đọc nó. Vậy ai là người kích động lật đổ? Chính là các ông!
Xin nhắc lại một lần nữa.
Khoa học là một tia sáng. Nó chỉ có thể đi theo một đường thẳng trong một môi trường trong suất không có vật cản”
Xin các ông đừng trở thành vật cản của khoa học.
                                                          Hà nội 7-8-2013
Nguồn: anhbasam

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét