Nhãn

Thứ Sáu, 30 tháng 3, 2012

Bến Lở

         Bến lở
                                                                       
   Truyện ngắn của Đặng Văn Sinh                                                   
                     
                 
          Xin nói trước, tôi không phải người vùng này mà chỉ là dân cửu vạn từ mạn Tào Khê xuống. Làng tôi nghèo, cánh đàn ông quanh năm chu du thiên hạ kiếm ăn bằng đủ thứ nghề trong đó có nghề đội cát. Hằng năm,vào dịp tháng bảy âm lịch, khi lũ sông Rào bắt đầu ngập cồn khoai, đỏ ngầu như son, sóng vỗ oàm oạp là đám xúc cát lại khăn gói quả mướp lếch thếch về quê. Nhưng năm nay rất lạ. Mới ra giêng, đã sấm sét đùng đùng, sau đó là trận mưa  như trút nước kéo dài ba ngày ba đêm . Tiếp theo là hạn hán  sáu tháng liền. Vì thế, đã vào tiết ngâu mà nước mới chỉ mấp mé chân đê. Dòng sông có vẻ như cố tình không tuân theo quy luật tự nhiên, để cho bãi cát cồn Khoai cứ trơ ra dưới ánh nắng mặt trời nhiệt đới chớm sang thu mà còn gay gắt hơn cả trưa hè. Kiểu thời tiết trái khoáy như thế này chỉ có lợi cho thợ cát nên chẳng ai dại gì mà bỏ về trong khi vẫn có thể kiếm được ngày vài  nghìn từ hầu bao của các ông chủ thầu.
Buổi chiều hôm ấy trời oi, vừa tắm xong mồ hôi đã tứa đầy người. Tôi tha thẩn trên bãi chuối ngắm những cánh buồm xuôi ngược bên kia lạch Tế Sơn và ngẫm nghĩ về thân phận làm thuê của mình. Đêm xuống, trăng đã lên từ lâu nhưng tôi vẫn chưa muốn về lán. Khuôn trăng mười ba chưa tròn mà đã vàng úa tựa lá ngô đồng rụng. Vẫn chẳng thấy một ngọn gió. Tôi cởi quần áo vắt lên một cành cây điền thanh rồi nhảy ùm xuống sông. Nước đục lờ, chảy lững thững như là đã qúa mệt mỏi  sau chặng đường dài đằng đẵng vượt thác ghềnh từ mãi ngàn xanh đổ về. Tôi sải tay bơi ra phía cồn Khoai. Đó chính là cái cồn cát vô tận mà hàng ngày chúng tôi vẫn phải theo thuyền ra đội từng thúng một đổ đầy những chiếc sà lan để họ chở ngược lên bến Đụn bán cho công trường xây nhà máy đường. Cồn Khoai bây giờ nhập nhòa dưới bóng trăng đỏ rực, Tôi có cảm  giác như mình định hướng nhầm, càng bơi càng xa. Cái doi đất giữa sông mỗi lúc một nhỏ dần, cho đến khi bên tai dậy lên những tiếng ù ù như  là sấm rền thì tôi bị cuốn vào một vùng nước xoáy tối tăm mặt mũi không biết gì nữa.

Lúc tỉnh lại, tôi thấy mình nằm trong sạp chiếc thuyền đánh cá, trên mui treo ngọn đèn chai cứ lắc lư theo nhịp sóng. Ngồi bên cạnh là một ông già có vẻ mặt khắc khổ rất khó đoán tuổi nhưng dày dạn phong sương bởi mấy vết hằn khác thường bên khóe miệng. Ông già thấy tôi mở mắt  liền lắc đầu trách :
- Cậu liều quá, một mình mà dám tắm ở khúc sông này, nếu tôi không nhanh tay thì giờ chắc đã làm mồi cho Thủy thần.
Bấy giờ tôi mới biết, hôm trước trên thượng nguồn mưa lớn, nước lũ đang về, nhưng điều đáng sợ hơn cả là, đối diện với cồn Khoai, chỗ tôi định bơi sang là Bến Lở. Khúc sông này, thỉnh thoảng vẫn gây ra những cái chết bí hiểm mà ngay cả ông trùm vạn chài, đã từng lăn lộn với nghề hạ bạc ngót năm mươi năm cũng không giải thích nổi. Sau khi bưng cho tôi bát cháo cá lăng nấu với thìa là, ông chủ thuyền thủng thẳng nói :
-  Dân trong vùng bảo rằng đoạn sông này có Hà Bá, thỉnh thoảng ngài làm dữ đòi vật hiến tế, để tôi kể cậu nghe chuyện này, rất khó tin nhưng không phải không có lý...
Vào những năm đầu kháng chiến, có một hãng vận tải chuyên chở vật liệu cung cấp cho các đồn binh xây lô cốt trên các triền sông đường Hải Phòng - Hà Nội, Hải Phòng - Phả Lại. Chủ hãng là gã Tây lai Giắc kê. Giắc kê có cô vợ người Việt xinh đẹp và cũng rất sắc sảo tên là Bạch Phượng. Thợ máy thường xuyên theo đoàn tàu dắt là Lê Công, một tay lãng tử từng theo học trường Bách Nghệ, giỏi nghề cơ khí, được lão chủ Tây nể, lại trả lương cao. Tay tài công có dáng vóc như một đô vật với bộ ria con kiến trên khuôn mặt chữ điền, trông khá dữ tợn, lại lầm lỳ, ít nói nên ít gây được thiện cảm với đám chân sào. Nghe nói, trước khi vào trường Bách Nghệ, Công đã từng theo một võ sư Bình Định hai năm. Mục đích học võ của Công là để thanh toán lão Cấn Thọt làng Đọi. Tay bá hộ ấy vì việc tranh chức chánh tổng không thành, nghi là cha anh ngầm phá đám đã cho tay chân quăng thuốc phiện vào nhà rồi đi báo quan khiến ông phải vào tù. Nửa tháng sau Cấn Thọt chết đuối ở ngòi Vạn trong một đêm đi đánh tổ tôm bên làng Sộp. Người ta kháo nhau, lão làm điều ác bị quả báo, chứ con ngòi cách đường cái cả một cánh đồng, có say rượu cũng chẳng thể lạc xa như thế.
Vợ Giắc kê nhìn thấy Lê Công thì để ý ngay. Từ đó, thỉnh thoảng cô ta lại lấy cớ muốn xem phong cảnh sông nước để xuống tàu gặp người thợ máy. Xem ra, anh tài công kia cũng không phải là vô tình. Trai chưa vợ, lại là dân thủy thủ quanh năm sông nước làm sao cưỡng được ánh mắt tống tình của bà chủ xinh đẹp. Hai người dan díu với nhau chừng nửa năm thì Giắc kê biết . Hắn cấm Bạch Phượng xuống tàu và răn đe chàng thợ máy. Cái trò này nó lạ lắm, trai gái đã vướng phải lưới tình thì khó mà gỡ ra được. Cô Phượng bị quản thúc tại gia nhưng không chịu thua, thỉnh thoảng vẫn lén ra gặp chàng tài công mỗi khi có dịp.
Một buổi chiều Giắc kê xuống tàu cùng mấy gã đàn em thỉnh thoảng vẫn thấy lảng vảng ở vườn hoa Đưa Người. Chúng bày bàn ghế trên boong, vừa nốc rượu chát vừa thì thầm bàn tán bằng thứ tiếng Pháp ngọng nghịu nghe rất chối tai. Sáng hôm sau, khi tàu vừa qua Bến Lở, một thủy thủ hốt hoảng báo tin Lê Công mất tích. Gã Tây lai giả bộ sửng sốt:
           - Làm gì có chuyện ấy, tối qua moa vừa gặp hắn ở khoang máy.
- Bẩm ông chủ, có thể ban đêm anh ấy bị rơi xuống sông...
           - Không thể thế được, Công là người bơi giỏi, moa biết mà ! Hãy tìm kỹ xem.
                                                                        *
                                                                    *  *
            Mất nhân tình Bạch Phượng đau đớn lắm. Cô ta bỏ tiền thuê  phường câu tìm khắp cả mấy khúc sông nhưng không thấy xác. Nỗi hoài nghi Giắc kê là kẻ thủ ác cứ ám ảnh tâm trí người đàn bà. Một hôm, trong lúc không kìm được cơn giận vì bị gã Tây lai xúc phạm, cô chỉ mặt hắn bảo :
- Mày đã thuê bọn lưu manh giết anh ấy, đồ hèn !
Giắc kê vừa tu gần hết chai Brundy, giọng nồng nặc hơi men :
- Anh ta nốc rượu ngang Phú Lộc say mèm rồi ngã xuống sông làm hãng "Thủy Thần" mất một thợ máy tài ba, chính moa cũng tiếc đứt ruột...
Phượng hằn học nhìn hắn rít qua kẽ răng :
- Đồ nói dối trắng trợn !
Mặt Giắc kê cau có. Sau một cơn ho sặc sụa, có lẽ vì thứ rượu Ăng lê quá nặng, hắn
cất giọng lè nhè :
- Mày đã ngủ với nó bao nhiêu lần rồi ?
Bạch Phượng chồm lên hất tách cà phê vào mặt chồng :
- Tao sẽ ra sở cảnh sát tố cáo tội giết người của mày.
            - Ô là là ! - Giắc kê bật cười hô hố nói bằng thứ tiếng Việt rất chuẩn - Cứ ra báo cảnh sát đi xem công lý thuộc về ai. Nhà nước Đại Pháp chưa bao giờ bênh lũ da vàng hèn hạ.
            - Thằng khốn ! - Người đàn bà cáu tiết văng tục - Thế mẹ đẻ ra mày là giống người nào hả ?
            Thằng Tây lai bỗng sầm mặt, dịu giọng :
            - Đó là nỗi đau của tao. Đáng lẽ bà ấy không nên để tao làm người trong cái xứ nhiệt đới chó chết này.
            Câu chuyện trên xảy ra được hơn hai tháng thì tay chủ hãng rơi xuống sông trong lúc ngồi vắt chân chữ ngũ đốt xì gà trên chiếc ghế bố ở boong tàu vào một đêm tối trời. Ba bốn ngày sau, dân vạn chài mới thấy hắn nổi lập lờ trên vụng Giải, hai tay, hai chân bị trói bằng dây dù. Hắng trương phềnh như con bò mộng, da thịt bị cá rỉa lỗ chỗ, bốc mùi khăn khẳn, rất lợm giọng. Không ai nhìn thấy thủ phạm nhưng cánh chân sào đoán đó là đòn trả thù của Lê Công. Mãi sau này Công mới thú thật với Phượng. Anh ta vốn có tài bơi lội, lại được ông thầy Bình Định truyền cho dăm miếng võ, lúc bị quăng xuống nước vẫn bình tĩnh cắn đứt dây trói, lặn một mạch vào bờ tìm lá dấu đắp vết thương. Khi khỏi, Lê Công lộn về Hải Phòng chờ dịp phục thù...
Hắn chết rồi, việc quản lý hãng "Thủy thần" rơi vào tay Bạch Phượng. Lê Công được nhận lại nhưng không phải thợ máy mà với tư cách ông chủ. Từ đấy họ không chở sắt thép xi măng cho Pháp xây đồn binh nữa mà chuyển sang chở gạo và bông gòn.
Một tuần sau, công sứ Hải Phòng gọi Bạch Phượng đến bảo, nếu không vận chuyển vật liệu xây dựng phục vụ quân đội Liên hiệp Pháp, nhà nước bảo hộ sẽ cắt giấy phép kinh doanh. Lê Công bàn với vợ bán toàn bộ phương tiện cho hãng "Con Rồng" của ông Cự Phất ở Sài Gòn rồi thuê đóng hơn chục chiếc thuyền buồm chạy cò con trong nội hạt, lãi mỏng nhưng chắc ăn. Hòa bình được mấy năm, trong đợt cải tạo công thương, hai người hiến tất cả tài sản cho chính phủ chỉ để lại một con đò làm kế sinh nhai. Ông bà sinh hạ được hai trai một gái. Người con lớn là bộ đội hải quân. Anh thứ hai bốc vác ở cửa hàng lương thực huyện. Cô út, giáo viên cấp hai. Ở tuổi xấp xỉ lục tuần, đáng ra có thể kiếm việc nhẹ nhàng, sống bình yên bên vợ con những năm tháng cuối đời, nhưng cái máu giang hồ làm lão cựu tài công không thể quên nghề sông nước. Giữa những năm chiến tranh phá hoại ác liệt nhất, ông ta tìm mua gỗ, tự tay đóng thuyền rồi đăng ký xin chở đò dọc.
Con đò nhỏ hôm ấy xuôi dòng, ít khách, gồm bà buôn trầu vỏ quê Thủy Nguyên, bà Biển Động kèm mấy sọt củ nâu, tiếp đến là năm sáu ông nhà quê, áo the, khăn xếp giống như đi dự đám cưới, cuối cùng là người đàn ông còn khá trẻ có nước da mai mái như cớm nắng. Hành lý của anh ta chỉ vỏn vẹn chiếc tay nải nhuộm vỏ già. Khởi hành vào lúc chạng vạng, nước đang lên, thuyền chạy chậm rì rì. Thỉnh thoảng một ngọn gió hiếm hoi tạt ngang mặt sông làm cánh buồm vá chằng vá đụp thủng lỗ chỗ giật nảy lên như là bị vấp. Mặt sông lặng sóng. Phải chú ý lắm mới nghe thấy những tiếng vỗ nhè nhẹ kéo dài của mũi thuyền rẽ nước. Hai bên bờ, ếch nhái gân cổ  thi nhau hòa tấu bản giao hưởng đồng quê với đủ các loại nhạc cụ, từ giọng ồm ồm của chú ếch cốm mới vỡ đến tiếng ngân lanh lảnh của vài cậu ễnh ương sọc xanh. Bọn nhái bén thì há miệng nhả từng tiếng khàn khàn như là thanh trầm của kèn pha gốt. Duy có nhà cóc, cậu ông Trời, là chẳng hiểu gì về âm nhạc, luôn phá ngang bằng những cái nghiến răng kèn kẹt. Vòm trời đêm ấy hơi khác thường, rất thưa sao và thỉnh thoảng mới có gợn mây. Từ dải Ngân Hà nhợt nhạt như đám sương mù, một ngôi sao băng rạch ngang đầu con vịt và cái gầu tát nước, kéo xuống tận đường chân trời thành vệt dài, sáng như ánh lửa hàn.
Ngồi bên người đàn ông là Nhuần, con gái út của ông Công, vốn là giáo chức đang dịp nghỉ hè. Cô này cũng có máu giang hồ, thích phiêu lưu, luôn cảm thấy gõ đầu trẻ là một công việc nhàm chán, đã mấy lần toan bỏ nghề theo đò dọc với bố. Ông Công tóc bạc trắng, búi củ hành, buộc túm bằng chiếc khăn điều, hai múi rủ lòng thòng xuống vai. Ông già có nét mặt đặc biệt rất dễ nhớ bởi những vạch ngang dọc hằn sâu hai bên má giống vết cào của thú dữ khi cùng đường buộc phải giao tranh với người. Tuy nhiên, tôi phải nói với cậu, ông ta là người lương thiện nhưng lương thiện theo kiểu một tay giang hồ sông nước.
Đêm đã khuya lắm. Sương bắt đầu nặng hật. Dải Ngân Hà mờ dần. Bầu trời trong suốt màu lam ngọc như bị đẩy lên cao làm cho đám hành khách trên con thuyền mỏng manh kia tưởng mình đang phiêu diêu trong thế giới thần tiên. Gần về sáng, trời chuyển gió. Nước sông đã lên cao. Sóng vỗ óc ách hai bên mạn. Mọi người đang chập chờn nửa thức nửa ngủ, chợt nghe thấy những âm thanh rào rào như sóng biển dội về. Đầu tiên nó bẻ gãy cột buồm, sau đó, bằng sức mạnh siêu nhiên, vô tình, nó hút con thuyền lên cao, xoay tròn giữa không trung rồi ném đám hành khách đang vô cùng khiếp đảm kia vào bóng đêm.
Người đàn ông không biết mình bị rơi như thế nào, chỉ biết rằng khi ý thức được cái chết đã kề bên thì đồng thời bị nghẹt thở. Anh ta vội nhổ nước ra rồi ngậm chặt miệng. Hóa ra, khi rơi anh ta bị đâm đầu xuống nước, lúng túng mãi mới định hướng xoay người nhoi được lên, há miệng thở như kéo bễ. Đang tìm cách vào bờ, cánh tay anh chợt vướng vào một mảng tóc. Linh tính báo cho biết đó là một phụ nữ, anh vội nắm chặt mớ tóc kéo lên sau đó lặn xuống đỡ ngang lưng nạn nhân đặt lên vai, nương theo dòng nước bơi dần vào bãi cát bên tả ngạn.
Lúc ấy đã nhìn rõ mặt người, Nhuần nằm ngửa, vắt ngang trên hai tay người đàn ông, rũ ra như cái xác không hồn. Anh ta vác cô gái lên vai chạy đi chạy lại đến ba vòng trên bãi ngô non để xả hết cái thứ nước màu gạch cua đang óc ách trong bụng. Anh ta đã kiên trì làm đủ các thủ thuật như hô hấp nhân tạo, hút đờm dãi ở miệng, bấm các huyệt đạo vậy mà phải gần hai giờ đồng hồ cô gái mới tỉnh lại. Nhuần ngỡ ngàng nhận ra ân nhân chính là người đàn ông có nước da mai mái ngồi cùng chuyến đò đêm qua.
Mãi đến chiều Nhuần mới đủ sức cùng người đàn ông đi ngược lên phía thượng lưu nơi con đò bị nạn. Dòng sông ban ngày thật đáng sợ. Con đò bị lốc cuốn ở bên lở. Đoạn sông này rộng và có một vực xoáy cách bờ chừng sáu bảy chục thước. Đứng trên cao nhìn nước triều cuồn cuộn chảy va đập vào bờ tạo thành những đợt sóng bạc đầu làm Nhuần bất giác rùng mình. Con đò bị trận lốc đột ngột như chiếc lá tre xoay theo chiều gió, bay vào mãi cánh đồng Mả Hủi làng Cháy cách bờ sông già nửa cây số. Trừ cột buồm bị gãy, tất cả còn lại hầu như nguyên vẹn. Bà Thủy Nguyên buôn trầu vỏ và bà Biển Động buôn củ nâu làm một cú thăng thiên khá là ngoạn mục rồi bị quăng xuống cồn Khoai sợ vãi cả linh hồn nhưng không chết. Lúc thần hồn trở lại cả hai đệ tử nhà Phật đều nhăn nhó vì mông đau ê ẩm, cứ chắp hai tay vái lên giời, miệng liên tục niệm "Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn". Riêng ông lái đò mất tích. Bà Phượng và cô Nhuần thuê thuyền câu tìm suốt một tuần mà không thấy xác cậu ạ.
            - Thế thì lạ thật - Tôi cảm thấy người ớn lạnh vì câu chuyện của ông trùm vạn chài có mùi ma quỷ - Hay là có Hà Bá thật hả bác ?
            - Tôi không dám chắc - Ông già chép miệng bảo - Xung quanh cái chết của ông chủ đò dọc còn nhiều bí hiểm lắm. Có điều cậu không thể ngờ là, cái đoạn Bến Lở bên kia kìa, vào năn bốn chín , năm mươi, lão Giắc kê đã trói Lê Công ném xuống sông, rồi cũng chính chỗ ấy, mấy tháng sau, ông ta lại ngâm tôm gã Tây lai. Chẳng biết có phải là ngẫu nhiên hay do thế lực huyền bí nào sắp xếp mà vào năm bảy ba, trận gió lốc lúc nửa đêm  cuốn bay con thuyền cũng đúng vào chỗ Bến Lở có cái vực xoáy...
- Chuyện cô Nhuần về sau thế nào hả bác ?
           - Cái người cứu được cô Nhuần đêm ấy là một anh chàng mới đi tù về - Ông già điềm tĩnh kể tiếp bằng cái giọng có vẻ như bỡn cợt - Anh ta quê ở mãi xóm Trại làng Đáp Khê, đi bộ đội gần một năm thì vợ ở nhà lòng thòng với tay chủ nhiệm hợp tác xã. Họ quan hệ kín đáo lắm nhưng vẫn có người biết. Cô Thảnh bên xóm Giữa còn kể đã gặp anh chị đưa nhau lên huyện chẳng biết làm gì. Sau đợt ấy, về nhà, cô Luyến cứ xanh xao như người hậu sản. Các cô vợ lính có chồng đi B thóc mách đoán già đoán non là cô ta đi nạo thai. Chị Tam, vợ tay chủ nhiệm vốn có máu Hoạn Thư, một hôm rình tóm được Luyến ở gốc đa đầu làng gây sự. Đầu tiên hai bên còn đấu khẩu, sau xông vào túm tóc vật nhau lăn cả xuống ruộng, bùn đất dính bê bết khắp người như là vừa đi tát vét về. Chủ nhiệm Tiệp bị mất mặt, lôi vợ về nhà đánh một trận thừa sống thiếu chết.
            Cuối năm ấy, chồng Luyến được về nghỉ mấy ngày để đi chiến trường. Anh ta ra bến đò tìm mua ít lá gồi chữa mái nhà thì gặp cô em họ đang chèo thuyền sang làng Vạc chở dây khoai. Nhìn thấy anh, cô em gọi :
- Anh Thản, bên Hạ Chiểu mới có mấy bè lá về, xuống thuyền em đưa sang mà chọn.
            Tưởng thật, Thản xuống đò cầm mái chèo quay mũi thuyền về hướng ngã ba  Môi. Được một đoạn, Hường mới bảo :
            - Nói đùa anh vậy thôi, bên ấy làm gì có lá gồi nhưng có chuyện này, em nói anh phải thật bình tĩnh mới được.
            - Có chuyện gì mà nghiêm trọng thế ?
            - Anh nghe đây. Chị Luyến ở nhà phải lòng tay Tiệp. hai người túng tấng với nhau từ lâu, bà con xã viên gần đây mới biết nhưng họ ngại nói ra sợ anh ta thù, cắt công điểm. Bây giờ anh vè liệu mà khu xử để chị ấy thôi đi, nếu không hạnh phúc cả hai gia đình đều tan vỡ mà rồi xóm làng người ta cười cho.
            - Cô nói thật hay đùa đấy ? - Thản cảm thấy mặt nóng ran, người bứt rứt khó chịu, hỏi nhát gừng .
            Hường cười nhạt, buông lửng từng tiếng một :
            - Em có quý mến anh mới nói chuyện hệ trọng như thế. Anh coi em là cái thứ gì mà nghĩ rằng em vu oan giá họa cho người khác ?
            Thản tái mặt. Anh đảo mái chèo, xoay mũi cho thuyền hướng vào bờ rồi cố nở nụ cười làm lành :
- Anh xin lỗi, tin của em làm anh mất bình tĩnh...
            - Nghe em bảo đây! - Hường dịu giọng dặn - Về nhà đừng có nổi máu Trương Phi mà hỏng việc, phải khuyên giải chị ấy thật tình cảm vào.
            Đêm hôm ấy Thản phác ra một kế hoạch. Sáng hôm sau anh bảo vợ :
            - Mai anh phải đi rồi.
            - Sao đi sớm thế ? Anh không thể ở thêm với em mấy hôm nữa ư ?
            - Quân lệnh như sơn. - Thản mỉm cười buồn rầu  nhìn vợ - Đơn vị cho nghỉ tranh thủ thế là nhiều. Em giữ anh lại chỉ cần nửa ngày thôi là bị kỷ luật ngay.
            - Anh ơi ! Luyến rưng rưng nước mắt, giọng thổn thức - đi rồi về với em, đừng chết...
            Thản âu yếm vuốt tóc vợ động viên :
            Tiền tuyến đang thắng lớn, chẳng mấy chốc giải phóng miền Nam, khi ấy anh sẽ về hẳn với em, lo gì. Còn việc nữa anh dặn đây. Mình là gái có chồng phải giữ gìn. Anh vào chiến trường, ở nhà có đứa nào đêm hôm trêu chọc, em nên báo ngay cho chính quyền để các anh ấy can thiệp. Nhà mình gần bến sông phải cảnh giác.
            - Anh yên tâm, em nhớ.
            Trưa hôm sau, Thản khoác ba lô tắt cánh đồng Lác lên chợ Ô đón xe. Nhưng anh ta chưa về đơn vị ngay. Buổi tối, Thản vào nhà một người bạn gửi ba lô, mượn bộ quần áo dân sự, chụp chiếc mũ lá lên đầu rồi lại tắt đồng về xóm Trại.
            Thời chiến, xã cấm nuôi chó, làng xóm yên tĩnh lắm..Mới chín giờ tối mà mọi nhà đã ngủ yên. Thỉnh thoảng mới có đám dân quân đi tuần. Một con trống choai nào đó gần trụ sở hợp tác, tự nhiên đập cánh phành phạch rồi cất tiếng gáy. Tiếng gáy của nó nghe thật lạc lõng và buồn thảm giữa một không gian luôn tiềm ẩn cái chết bất chợt tuy nơi đây còn cách chiến trường cả ngàn cây số. Gần đến nhà, Thản dò dẫm từng bước như một tên kẻ trộm để tránh gây tiếng động. Khi đã bò vào sát cửa, anh ta áp tai lên vách nghe ngóng. Quả nhiên trong nhà có tiếng sột soạt rồi một giọng đàn ông rất khẽ phải thật chú ý mới nghe rõ :
            - Hắn có nghi ngờ gì không ?
            - Không, hắn cả tin lắm. - Luyến thì thầm - Hắn còn dặn em ở nhà có đứa nào trêu ghẹo thì phải báo ngay Ủy ban.
            Gã đàn ông chợt cười thành tiếng :
            - Hắn cũng khôn đấy nhưng vẫn còn chỗ hớ...
            - Thôi đi, đồ nỡm ! - Luyến nũng nịu - Nói thực tình, em không sợ chồng em bằng con sư tử Hà Đong nhà anh. Anh mà không nẹt nó đi là có lúc chết đấy.
            - Nào, thôi... làm gì mà giận lâu thế.
            Những câu đối thoại không đầu không cuối đến đây thì tạm ngừng. Có tiếng động nhẹ rồi mạnh dần kèm theo những nhịp thở hổn hển, gấp gáp. Thản sốt tiết co chân đạp thật mạnh. Cánh cửa liếp  bật tung ra  và anh lao vào, một tay rọi đèn pile, tay kia khua con dao thiến lợn, quát :
            - Nằm im ! Các người động đạy là mất mạng.
            Tay chủ nhiệm vốn lắm mưu mẹo, biết thế nguy, hạ giọng van vỉ :
            - Trăm lạy chú Thản, tôi chót dại một lần... xin chú tha cho.
            - Cũng được... - Thản cười gằn - nhưng các người phải ký vào biên bản đã.
            Vừa nói thản vừa quay ra chiếc bàn nhỏ tìm giấy bút. Thế là nhanh như cắt, Tiệp vơ đống quần áo nhảy xuống định phóng ra ngoài. Nhưng Thản đã đề phòng. Anh ngáng chân chắn cửa làm gã gian phu ngã sấp xuống. Tiện tay, Thản đưa xoẹt đường dao, xén đứt cả một vành tai làm hắn kêu rú lên như lợn cà đang bị thiến.
            Vì tội cố ý gây thương tích cho người khác theo Pháp lệnh ...ban hành ngày... tháng ...năm..., Thản bị tước quân tịch, phải ra Tòa án binh lĩnh án tù giam ba năm. Trước khi vào trại, Thản viết đơn ly hôn, ký sẵn, đề phòng khi xử anh không phải về nữa.
            Tôi đoán chừng, ông già vạn chài này phải có mối quan hệ nào đó với những người trong cuộc nên mới kể chuyện rành rẽ đến như thế. Đợi cho ông kéo xong mồi thuốc lào, tôi lại tò mò hỏi :
            Rồi sau thế nào hả bác ? Cháu muốn hỏi chuyện anh Thản và cô Nhuần ấy.
            - Điều ấy thì cậu phải tự suy ra chứ còn việc gì phải kể nữa...- Ông từ từ nhả khói thuốc, trầm ngâm khá lâu rồi mới nói tiếp bằng giọng buồn buồn  - Chẳng biết do tiền oan nghiệp chướng gì mà đến năm tám mươi chín, tức là năm Kỷ Tỵ, bà Phượng đi lễ đền Kiếp Bạc, thuyền qua Bến Lở lại bị đắm. Mọi người đều được cứu sống, chỉ riêng bà cụ tử nạn, mãi ba ngày sau mới tìm thấy thi thể  ở Tuần Châu.
            Sáng hôm sau, đúng ngày rằm tháng bảy, tôi ngồi trên sạp thuyền  gỡ những con cá vướng lưới đêm qua giúp ông thuyền chài. Dưới hạ lưu, một chiếc đò dọc trên sạp bày hương hoa và mâm ngũ quả chèo ngược lên phía cồn Khoai. Trên thuyền hình như có cả tiếng kèn thổi điệu Lâm khốc cùng với tiếng khóc nghe rất là ai oán. Tôi hỏi ông già :
            - Hình như thuyền kia mới có người chết ?
            Ông trùm vạn chài lắc dầu :
            - Bà Nhuần cùng cô con gái đi cúng rằm tháng bảy cầu siêu cho hương hồn ông cụ, bà cụ tử nạn ở Bến Lở đấy...
            Giờ thì tôi đã biết ông thuyền chài là ai. Buổi trưa, sau khi ăn rằm với gia đình ông già, tôi chân thành cảm ơn rồi khoác khăn gói lên bờ. Từ đấy tôi bỏ hẳng nghề đội cát.
                                                                                                           
           Bến Tuần , 22/5/ 2000

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét